Đào tạo và nghiên cứu

BS. Lê Quang Hiển (dịch)
Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu - Bệnh viện Bạch Mai

 

Mục đích của nghiên cứu này là đánh giá hiệu quả điều trị của 223Ra đối với các bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt di căn xương bằng18F-fluoride PET/CT, 18FDG PET/CT, xạ hình xương /SPECT.

Các tác giả đã tiến hành nghiên cứu hồi cứu trên 10 bệnh nhân ung thư tiền liệt tuyến di căn xương. Các bệnh nhân này được điều trị bằng 223Ra với liều 55kBq/kg, tiêm tĩnh mạch 6 lần mỗi 4 tuần. Trước khi bắt đầu điều trị 223Ra và sau lần điều trị thứ 6, các bệnh nhân đều được đánh giá bằng 18F-fluoride PET/CT, 18FDG PET/CT và xạ hình xương/SPECT. Kỹ thuật PET/CT 18F-fluoride và 18FDG PET/CT được thực hiện 60 phút sau khi tiêm tĩnh mạch 2,1MBq/kg 18F-fluoride hoặc 3,7MBq/kg 18FDG bằng máy PET/CT (máy Biograph 16 hoặc Biograph Horizon của hãng Siemens). Kỹ thuật xạ hình xương/SPECT được thực hiện 3 giờ sau khi tiêm tĩnh mạch 740MBq 99mTc-MDP hoặc 99mTc-HMDP bằng máy xạ hình (máy Symbia T của hãng Siemens). Vùng quan tâm (ROI) được vẽ tại các khu vực di căn xương và giá trị hấp thu chuẩn tối đa (SUVmax) được đo lại trong các vùng ROI đó. Giá trị PSA được so sánh trước và sau trị điều trị bằng 223Ra.

Kết quả của nghiên cứu cho thấy 223Ra làm cải thiện tình trạng di căn xương và giảm SUVmax ở 8 bệnh nhân. 18F-fluoride PET/CT giúp phát hiện di căn xương tốt hơn so với xạ hình xương/SPECT. Tuy nhiên, 18FDG PET/CT nhạy hơn hai kỹ thuật trên trong việc phát hiện di căn xương. Cũng trong nghiên cứu này, nồng độ PSA đã tăng lên ở 7 bệnh nhân sau khi điều trị bằng 223Ra.

Như vậy, 223Ra có hiệu quả làm giảm tình trạng di căn xương ở 8 trong số 10 bệnh nhân ung thư tiền liệt tuyến di căn xương (được khẳng định bằng 18F-fluoride PET/CT, 18FDG PET/CT và xạ hình xương/SPECT), mặc dù nồng độ PSA đã tăng trong 7 bệnh nhân sau khi điều trị bằng 223Ra.

 


Nguồn: Evaluation of 223Ra therapy on bone metastases of prostate cancer by 18F-fluoride PET/CT, 18FDG PET/CT and bonescintigraphy/SPECT.

 

Tác giả: Katsuhiko Kato, TetsuroOdagawa, Naotoshi Fujita, Yoshinori Tsutsumi, Shinji Abe, Seiichi Yamamoto, Shinji Naganawa, Nagoya University Graduate School of Medicine Nagoya Japan.

http://jnm.snmjournals.org/content/60/supplement_1/534.abstract

ungthubachmai.vn

  TS.BS. Nguyễn Huy Bình (dịch)

Đơn vị gen và Tế bào gốc

Trung tâm YHHN&UB, Bệnh viện Bạch Mai.

 

Đặt vấn đề

Tế bào gốc trung mô có khả năng định hướng tới khối u thần kinh đệm, vì vậy, tế bào này có thể coi là một phương tiện chuyên chở trong liệu pháp tế bào điều trị trúng đích loại u này.

Mục đích

Đánh giá hiệu quả của liệu pháp tiêm tế bào gốc trung mô phủ nanopaclitaxel trên mô hình chuột có khối u thần kinh đệm.

Phương pháp

Ủ hạt nanopaclitaxel với tế bào gốc trung mô để tạo ra hỗn hợp tế bào gốc trung mô phủ nano paclitaxel. Sử dụng hệ thống nuôi cấy mô phỏng hàng rào máu não để đánh giá về sự di chuyển và độc tính của hỗn hợp này. Hoạt tính phân bố sinh học và kháng u được đánh giá trên mô hình chuột có khối u thần kinh đệm bằng cách tiêm hỗn hợp vào chuột.

Kết quả

Liều tối ưu của hỗn hợp tế bào gốc trung mô phủ nanopaclitaxel (1 pgpaclitaxel/tế bào) có ảnh hưởng rất ít tới khả năng di chuyển, phân chia và biệt hóa của tế bào gốc trung mô. Nghiên cứu sử dụng tế bào gốc trung mô gắn paclitaxel thông thường và paclitaxel dạng nano với mục đích giúp tiêu diệt tế bào khối u thần kinh đệm. Trên động vật thực nghiệm thì các hạt nano paclitaxel được đánh dấu sẽ xuất hiện ở khối u sau tiêm 2 ngày. Khả năng sống sót ở nhóm chuột có tiêm tế bào gốc trung mô gắn cả 2 loại paclitaxel thông thường và dạng nano thì tốt hơn so với nhóm chỉ sử dụng tế bào gốc trung mô gắn với một trong hai loại paclitaxel.

Kết luận

Dựa vào thời gian và khả năng chuyển paclitaxel từ tế bào gốc trung mô sang khối u, có thể cho thấy tế bào gốc trung mô chứa hạt nano paclitaxel cho hiệu quả trong điều trị u thần kinh đệm. Incorporation of chemotherapeutic drug-loaded NPs into MSCs is a promising strategy for tumor-targeted therapy. Do vậy, sự phối hợp giữa liệu pháp tế bào gốc trung mô phủ hóa chất dạng nano là hướng mới trong điều trị đích các bệnh ung thư.

Nguồn Int J Nanomedicine. 2018; 13: 5231–5248.

ungthubachmai.vn

 

BSNT. Tống Thị Huyền,

GS. Mai Trọng Khoa, PGS. TS Phạm Cẩm Phương (Dịch)

Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu, Bệnh viện Bạch Mai

 

Một số tác nhân nhiễm trùng được biết tới là có mối liên quan làm tăng nguy cơ phát triển của ung thư. Theo một nghiên cứu gần đây được công bố trên tạp chí Lancet Global Health, tỉ lệ ung thư liên quan đến nhiễm khuẩn cao hơn kỳ vọng. Nghiên cứu đã sử dụng dữ liệu của GLOBACAN 2018 về tỉ lệ hiện mắc và tỉ lệ tử vong để đánh giá các loại ung thư đặc biệt đã được biết đến là có liên quan đến 10 tác nhân nhiễm trùng.

            Theo phân tích năm 2018 có 2,2 triệu trường hợp ung thư được cho là do tác nhân nhiễm khuẩn, tương ứng với tỉ lệ hiện mắc chuẩn theo tuổi (Age –standardized incidence rate: ASIR) là 25/100.000 người năm. Phần lớn các trường hợp ung thư mới phát hiện mới này có liên quan với Helicobacter pylori (810.000 ca mới mắc trong năm 2018; ASIR là 8,7), human papillomavirus (HPV là 690.000 ca mới mắc, ASIR là 4,1) và viêm gan virus C (160.000 ca mới mắc; ASIR là 1,7). Trong khi nam giới và nữ giới bị ảnh hưởng tương đương nhau do các tác nhân sinh ung thư, các tác nhân nhiễm khuẩn và các loại ung thư khác nhau. Ví dụ như, nữ giới thường hay mắc ung thư do nhiễm HPV, trong khi nam giới hay bị ung thư do nhiễm H.pylori. Vị trí địa lý cũng ảnh hưởng đến tỉ lệ ung thư. Tỉ lệ nhiễm khuẩn được cho là gây ung thư hay xảy ra ở miền Đông Á (ASIR là 37,9/100.000người/năm) và vùng Châu Phi cận Sahara tỉ lệ này là 33,1/100.000người/năm. Gần 1/3 trường hợp ung thư do nhiễm khuẩn xảy ra ở Trung Quốc được cho là chủ yếu liên quan nhiễm H. pylori và Viêm gan virus B.

            Các nhà nghiên cứu kết luận rằng tác nhân nhiễm khuẩn chịu trách nhiệm trong việc gia tăng tỉ lệ ung thư và liên quan trực tiếp trong dự phòng sự lây lan của nhiễm khuẩn liên quan với ung thư, đặc biệt ở nhóm nguy cơ cao.

ungthubachmai.vn

 BSNT. Đinh Xuân Mạnh

Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu - Bệnh viện Bạch Mai

   

CN. Nguyễn Thị Thu Giang

Đơn vị Gen – Tế bào gốc,

Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu, Bệnh viện Bạch Mai

 

Trong nhiều năm, phác đồ EXTREME được sử dụng để điều trị bước một cho ung thư biểu mô vảy vùng đầu cổ (squamous cell carcinoma of the head and neck – SCCHN) tái phát/ di căn. Phác đồ này là sự kết hợp của hóa trị trên nền plantinum, 5-fluorouracil (5-FU) và cetuximab, sau đó điều trị duy trì cetuximab. Phác đồ này cho thời gian sống còn toàn bộ (overall survival–OS) khoảng 10 tháng. Nó có độc tính đáng kể nhưng những bệnh nhân phù hợp có thể chịu được. Liệu pháp miễn dịch sử dụng thuốc ức chế PD-1 như nivolumab và pembrolizumab gần đây đã trở thành tiêu chuẩn điều trị cho những bệnh nhân tái phát hoặc di căn sau khi điều trị thất bại với hóa trị trên nền platium dựa trên các tiêu chí thời gian đáp ứng kéo dài, sự cải thiện tỉ lệ sống, hồ sơ các độc tính thường gặp và sự cải thiện chất lượng sống.

Tại hội nghị của Hiệp hội Ung thư Y khoa Châu Âu năm 2018 (European Society for Medical Oncology–ESMO) năm 2018, tiến sỹ Barbara Burtness (Trung tâm Ung thư Đại Học Yale, New Haven, Connecticut) đã trình bày các kết quả cập nhật mới nhất của nghiên cứu ngẫu nhiên pha III Keynote-048 so sánh hiệu quả của điều trị bước một pembrolizumab khi được dùng đơn trị và kết hợp với hóa trị platium phối hợp 5-FU so với phác đồ chăm sóc tiêu chuẩn hiện nay (EXTREME) trên những bệnh nhân SCCHN tái phát/di căn. Các điểm khác biệt chính trên cả hai nhánh có sử dụng pembrolizumab so với EXTREME là tỉ lệ sống không tiến triển (progression-free survival–PFS) ở nhóm cótỉ lệ dương tính kết hợp (combined positive score–CPS) PD-L1≥20, CPS≥1 và cỡ mẫu.

Đơn trị pembrolizumab cho kết quả cải thiện OS 4,2 tháng so với phác đồ EXTREME trên những bệnh nhân có CPS PD-L1≥20 (14,9 tháng so với 10,7 tháng; HR 0,61, P=0,0007). Trên những bệnh nhân có CPS≥1, đơn trị pembrolizumab cho hiệu quả cải thiện OS ít hơn so với phác đồ EXTREME nhưng vẫn có ý nghĩa (12,3 tháng so với 10,3 tháng; HR 0,78, P=0,086). Không có cải thiện trung bình PFS khi đơn trị pembrolizumab bất kể mức độ biểu hiện PD-L1, dù PFS 2 năm chiếm ưu thế. Phác đồ EXTREME cho tỉ lệ đáp ứng toàn bộ (overall response rate–ORR) cao hơn đơn trị pembrolizumab nhưng thời gian đáp ứng pembrolizumab kéo dài hơn trên cả nhóm CSP≥20 (20,9 tháng so với 4,2 tháng) và nhóm CPS≥1 (20,9 tháng so với 4,5 tháng).

Đơn trị pembrolizumab được dung nạp tốt và gặp các phản ứng có hại (adverse events–AE) ít hơn so với phác đồ EXTREME. AE độ 3/4 xảy ra ở 16,7% bệnh nhân dùng pembrolizumab và ở 69,0% bệnh nhân dùng phác đồ EXTREME. Có nhiều AE liên quan phản ứng miễn dịch trung gian xảy ra trên nhánh điều trị pembrolizumab (30,3% so với 23,7%) nhưng thường nhẹ và chủ yếu ở mức độ 1/2, thường gặp nhất là pembrolizumab là suy giáp, viêm phổi, cường giáp và phản ứng da nghiêm trọng.

Điều trị phối hợp pembrolizumab và hóa trị cho kết quả cải thiện OS đáng kể so với phác đồ EXTREME bất kể mức độ biểu hiện PD-L1 (13,0 tháng so với 10,7 tháng; HR 0,77, P=0,0034). Không có sự cải thiện về PFS hay ORR nhưng nhóm bệnh nhân điều trị phối hợp pembrolizumab và hóa trị có thời gian đáp ứng kéo dài hơn (6,7 tháng so với 4,3 tháng). Điều trị phối hợp pembrolizumab và hóa trị có tỉ lệ AE tương đương với phác đồ EXTREME, tỉ lệ AE độ 3/4 tương tự nhau (71,0%so với 69,0%), tỉ lệ AE phản ứng miễn dịch trung gian cũng tương tự nhau (25,7% so với 23,7%).

Tiến sĩ Burtness kết luận rằng những hiệu quả ấn tượng về OS và các độc tính có thể kiểm soát được của phác đồ đơn trị pembrolizumab đã cho thấy đây là một tiêu chuẩn điều trị mới cho những bệnh nhân SCCHN tái phát hoặc di căn có PD-L1 dương tính, trong khi đó, phác đồ kết hợp pembrolizumab với hóa trị nên được sử dụng trên những bệnh nhân không có biểu hiện PD-L1 hoặc không biết mức độ biểu hiện PD-L1. Thảo luận về vấn đề này, Tiến sĩ Jean-Pascal Machiels (Đại học Louvain, Brussels, Bỉ) đã đồng ý rằng hiện nay, pembrolizumab nên được coi là tiêu chuẩn điều trị bước đầu cho hầu hết những bệnh nhân SCCNH tái phát/di căn nhưng nhấn mạnh rằng phác đồ EXTREME vẫn có thể là phương pháp điều trị khả thi trên những bệnh nhân gánh nặng bệnh đang tăng lên, cần phải có những đáp ứng nhanh hoặc những bệnh nhân có CPS 0. Ông cũng chỉ ra tầm quan trọng của việc xác định CPS trên những bệnh nhân SCCHN tái phát/di căn. Ngoài ra, ông cũng thảo luận về trình tự các phương pháp điều trị khả thi tiếp theo dựa trên phương pháp đã điều trị bệnh nhân bước đầu: trên những bệnh nhân đã đơn trị pembrolizumab có thể là hóa trị trên nền platinum, trên những bệnh nhân đã tiến triển sau khi điều trị EXTREME có thể là liệu pháp miễn dịch; tuy nhiên, vẫn chưa có dữ liệu về phương pháp điều trị trên những bệnh nhân tiến triển sau khi điều trị phối hợp pembroizumab và hóa trị trên nền platinum.

Nguồn:Theo https://www.esmo.org/Press-Office/Press-Releases/KEYNOTE048-head-neck-cancer-immunotherapy-Burtness" target="_blank">Ann Oncol. 2018; 29 (Suppl 8)

https://www.primeoncology.org/primelines/first-line-pembrolizumab-superior-extreme-metastatic-scchn/?utm_campaign=PrimeLines&;utm_source=hs_email&utm_medium=email&utm_content=67954085&_hsenc=p2ANqtz-8ND-zUZdxAwyLhh3ORaEBEcquTzgmipsKQmvCbQ7kYVbg3ybtZ0PxuuKWlH8re4l0bBUlK_2b0oFVGhRl-FnR8Ec_hfg&_hsmi=67954085

ungthubachmai.vn

Quy trình điều trị ung thư tuyến tiền liệt bằng phương pháp cấy hạt phóng xạ I-125

Đánh giá thang điểm PIRADS trên hình ảnh MRI của tuyến tiền liệt

Sàng lọc ung thư phổi: Ai, khi nào, tại sao phải sàng lọc (Tổng hợp từ NCCN, ESMO, ASCO, CDC)

Một số phương pháp điều trị ung thư tuyến tiền liệt

Gen BRCA1 – BRCA2 trong ung thư vú và buồng trứng di truyền

Điều trị đích và cá thể hóa điều trị trong ung thư phổi

Đào tạo liên tục "Cập nhật trong sàng lọc, chẩn đoán và điều trị ung thư gan nguyên phát"

Cập nhật điều trị u thần kinh nội tiết đường tiêu hóa

DNA của tế bào khối u lưu hành trong máu - dấu ấn sinh học trong dự đoán tái phát và tiên lượng ung thư đại trực tràng giai đoạn sớm

Tính toán hệ thống bể lưu chất thải lỏng phóng xạ tự động gồm nhiều bể nhỏ trong điều trị ung thư tuyến giáp bằng I – 131.

Vẻ đẹp nhờ sự làm giảm tác dụng phụ sau điều trị hạch bạch huyết dương tính ở bệnh nhân ung thư vú

Những đột biến hiếm gặp trong ung thư phổi không tế bào nhỏ

Page 2 of 7

Tem dan Don vi Gen tri lieu 1

logo bach mai 2

Tiêu điểm

Hỗ trợ  

Joomla Templates and Joomla Extensions by ZooTemplate.Com
Hotline: 1900575758 phím 2

Clip

Đối tác chiến lược

chung cư imperia garden

Quảng cáo

Banner

Hình ảnh tiêu biểu

Đối tác chiến lược

chung cư imperia garden

Thống kê

Members : 8022
Content : 1268
Web Links : 3
Content View Hits : 358431