Friday, 22 February 2013 04:33

Đánh giá kết quả điều trị 2200 bệnh nhân u não và bệnh lý sọ não bằng phương pháp xạ phẫu dao gamma quay tại Trung tâm Y học hạt nhân & Ung bướu Bệnh viện Bạch Mai

Read 7057 times

Đánh giá kết quả điều trị u não và một số bệnh lý sọ não bằng dao gamma quay (Rotating Gamma Knife, RGK) tại Trung tâm Y học hạt nhân và ung bướu-Bệnh viện Bạch Mai, từ 7/2007 đến 01/2013

Mai Trọng Khoa, Nguyễn Quang Hùng, Trần Đình Hà, Lê Chính Đại, Vương Ngọc Dương, Vũ Hữu Khiêm, Phạm Văn Thái,

Phạm Cẩm Phương, Trần Ngọc Hải, Ngô Trường Sơn, Đoàn Xuân Trường, Ngô Thùy Trang và CS

Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu, Bệnh viện Bạch Mai

 TÓM TẮT:

Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị u não và một số bệnh lý sọ não bằng dao gamma quay (Rotating Gamma Knife, RGK) tại Trung tâm Y học hạt nhân và ung bướu-Bệnh viện Bạch Mai, từ 7/2007 đến 01/2013, Đối tượng nghiên cứu: 2200 bệnh nhân được chẩn đoán u não và một số bệnh lý sọ não, có chỉ định xạ phẫu bằng dao gamma quay. Kết quả nghiên cứu: Tuổi trung bình: 45,6 tuổi, tuổi thấp nhất là 4, cao nhất là 91 tuổi. Tỉ lệ nam=50,5/nữ=49,5. Trong tổng số 2200 bệnh nhân, u màng não chiếm 16,9%, tiếp đến là dị dạng mạch não 16,5%, u tuyến yên 13,7%, ung thư di căn não 9,6%, u máu thể hang 7,8%, u thần kinh đệm 7,5 %...Các loại u và bệnh lý sọ não khác chiếm tỷ lệ thấp hơn. Kích thước trung bình của các loại tổn thương là 2,4 ± 1,6 cm; nhỏ nhất là 0,2cm; lớn nhất là 6,8cm. Liều xạ phẫu trung bình cho các bệnh u tuyến yên là 14,4±2,1Gy, u màng não: 22,5±2,7Gy, AVM: 20,4±1,8 Gy, u dây thần kinh VIII: 14,1±1,9 Gy, K di căn não: 20,2±2,4 Gy, u sọ hầu: 12,8±1,4Gy, u tuyến tùng: 16,3±1,8Gy, u máu thể hang: 24,2±2,1Gy, u thần kinh đệm: 16,6±2,5Gy, u nguyên tủy bào: 16,1±2Gy, u màng não thất: 17,3±2,6Gy, Lymphoma: 15,3±2,7Gy, các loại u khác: 15,1±2,6Gy. Kết luận: Hầu hết các trường hợp đều có cải thiện triệu chứng lâm sàng tốt lên rõ rệt. Các triệu chứng này cải thiện ngay ở tháng thứ 1 sau xạ phẫu và cải thiện tốt ở tháng thứ 6 trở đi, 72% hết triệu chứng ở năm thứ 1; 80,8% hết triệu chứng ở năm thứ 2; 83,4% hết triệu chứng ở năm thứ 3; 84,1% hết triệu chứng ở năm thứ 4; 90,5% hết triệu chứng ở năm thứ 5. kích thước tổn thương trung bình là 2,4 ± 1,6cm, nhỏ nhất là 0,2cm, lớn nhất là 6,8cm. Kích thước trung bình của khối u giảm dần theo thời gian: sau 1 năm là 2±0,8cm; sau 2 năm 1,9±1,2cm; sau 3 năm 1,4±0,8cm; sau 4 năm 0,8±1,1cm; sau 5 năm 0,4±0,6cm. Trong quá trình xạ phẫu và theo dõi sau điều trị theo thời gian tỷ lệ tái phát tăng dần: bắt đầu ở năm thứ 2 là 3%; năm thứ 3 là 4,5%; năm thứ 4 là 7,6%; năm thứ 5 là 9,5%. Các tác dụng phụ chủ yếu gặp ở tháng thứ 3 như mệt mỏi: 39%, mất ngủ: 38,4%, chán ăn: 34,1%, đau đầu: 29,2%... các triệu chứng khác chiếm tỷ lệ ít hơn. Từ tháng thứ 6 đến trở đi tỷ lệ các biến chứng này ít gặp hơn và cải thiện tốt sau điều trị thuốc nội khoa. Xạ phẫu bằng dao gamma quay để điều trị cho các bệnh nhân u não và bệnh lý sọ não là an toàn, hiệu quả, đặc biệt là đối với bệnh nhân nhỏ tuổi, người có tuổi.

 ĐẶT VẤN ĐỀ

 U não và một số bệnh lý sọ não như dị dạng động tĩnh mạch (arteriovenous malformations, AVM), u máu thể hang (cavernoma) ...là những bệnh lý nguy hiểm đối với tính mạng người bệnh. Trong những năm gần đây, theo tổ chức Y tế Thế giới (WHO); hàng năm, cứ 10 vạn người thì có từ 3-5 người bị mắc u não và con số này ngày càng tăng. Nguyên nhân vẫn chưa được rõ trong khi bệnh thường gặp ở 2 nhóm tuổi từ 3-12 tuổi và 40-70 tuổi. Ở những thập niên trước, điều trị các bệnh lý nội sọ chủ yếu bằng phẫu thuật mở hộp sọ, tiếp đến phẫu thuật vi phẫu…Trong những năm gần đây, sự ra đời của máy xạ trị gia tốc, máy xạ phẫu bằng dao gamma, X knife, Cyber knife… đã giúp giải quyết những trường hợp khó hoặc không phẫu thuật được, mang lại thời gian và chất lượng sống tốt hơn cho người bệnh.

 Hệ thống dao Gamma có hai loại: Gamma cổ điển (Gamma knife) và Gamma quay (Rotating Gamma Knife: RGK). Nguyên lý chung là sự hội tụ chính xác của các chùm tia gamma từ nguồn Co-60 vào tổn thương. Hệ thống RGK có ưu điểm là thay vì mũ cố định nặng nề như các thế hệ máy cổ điển là hệ thống collimator quay quanh đầu bệnh nhân, giảm từ 201 nguồn Co-60 xuống còn 30 nguồn. Bên cạnh đó là hệ thống định vị tự động hoá có độ chính xác cao giúp cho việc điều trị thuận tiện, an toàn, chính xác và hiệu quả. Nhiều bệnh lý nội sọ có thể điều trị được bằng RGK: các u nguyên phát và di căn như u màng não, u tuyến yên, u sọ hầu, các u lành vùng nền sọ, u tuyến tùng, các u dây thần kinh sọ, u tế bào hình sao, dị dạng động tĩnh mạch...

Hệ thống RGK ART 6000 của Hoa Kỳ đã được đưa vào sử dụng ở Hoa Kỳ lần đầu tiên năm 2004. Ở Việt Nam, Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu (YHHN&UB), bệnh viện Bạch Mai là cơ sở đầu tiên ở Việt Nam đã triển khai và ứng dụng thành công kỹ thuật này để điều trị có kết quả tốt cho hàng nghìn lượt bệnh nhân u não và các bệnh lý nội sọ khác từ tháng 7-2007. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này nhằm mục tiêu : đánh giá kết quả điều trị 2200 bệnh nhân u não và bệnh lý sọ não bằng dao gamma quay tại Trung tâm YHHN&UB, bệnh viện Bạch Mai.

II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu: gồm 2200 bệnh nhân được chẩn đoán u não và một số bệnh lý sọ não, có chỉ định xạ phẫu bằng dao gamma quay tại Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu, bệnh viện Bạch Mai từ tháng 7/2007 đến 1/2013.

Tất cả các bệnh nhân chưa điều trị hoặc sau điều trị các tổn thương nội sọ được chẩn đoán xác định u não và các bệnh lý sọ não, được hội chẩn và thông qua chỉ định xạ phẫu bằng dao Gamma quay. Hội đồng hội chẩn gồm có các bác sỹ chuyên khoa ngoại thần kinh, nội thần kinh, ung thư, chẩn đoán hình ảnh, y học hạt nhân, giải phẫu bệnh, tai mũi họng… tại bệnh viện Bạch Mai và một số các bệnh viện khác.

2.2. Phương pháp nghiên cứu: mô tả tiến cứu

- Tất cả các bệnh nhân được làm các xét nghiệm đánh giá toàn thân và tại chỗ : công thức máu, sinh hóa máu, xét nghiệm miễn dịch, điện não đồ, chụp CT thường quy, chụp CT 64 dãy, chụp MRI, chụp SPECT não, Chụp DSA, chụp MRI phổ, xạ hình tưới máu não, xạ hình khối u, chụp PET/CT…

- Được xạ phẫu theo quy trình thống nhất và theo dõi theo mẫu nghiên cứu cho từng loại bệnh. Được khám lại định kỳ đánh giá các triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng sau xạ phẫu 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 1 năm, 2 năm, 3 năm, 4 năm, 5 năm….

  • Đánh giá triệu chứng cơ năng và các thay đổi cận lâm sàng
  • Đánh giá sự thay đổi hình ảnh của khối u theo tiêu chuẩn RECIST [3].

- Thiết bị sử dụng :

         Hệ thống dao gamma quay (RGK : Rotating gamma knife) do Hoa Kỳ sản xuất năm 2007

         Hệ thống collimator quay, hệ thống định vị đầu bệnh nhân tự động (APS : automatic positioning systems). Hệ thống phần mềm lập kế hoạch AGRS.

         Hệ thống chụp mô phỏng (simulator system) : CT, MRI, DSA, MSCT với hệ thống định vị Laser ba chiều.

- Quy trình xạ phẫu: bệnh nhân chỉ cần gây tê tại chỗ 4 điểm đặt khung định vị trên đầu (trừ trường hợp trẻ nhỏ cần phải có bác sỹ chuyên khoa Gây mê hỗ trợ). Sau đó bệnh nhân được chụp mô phỏng CT hoặc MRI tùy theo từng loại bệnh. Bác sỹ lập kế hoạch xạ phẫu sẽ xác định chính xác vị trí và phạm vi tổn thương, từ đó có chỉ định liều xạ thích hợp . Bệnh nhân hoàn toàn tỉnh táo trước, trong và sau khi xạ phẫu.

2.3. Xử lý số liệu: Kết quả nghiên cứu được xử lý theo chương trình SPSS 16.0.

III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Bảng 1: Phân bố tuổi của bệnh nhân

Phân bố tuổi

Số lượng bệnh nhân (n)

Tỷ lệ (%)

< 15

184

8,4

15- 30

466

21,2

30- 40

554

25,2

40- 60

551

25

>60

445

20,2

Tổng

2200

100

Nhận xét : + Nhóm tuổi hay gặp từ 15- 60 chiếm tỷ lệ 71,4%

              + Tuổi thấp nhất là 2,5 tuổi, cao nhất là 91, tuổi trung bình là 45,6    

   + Tỷ lệ nam/ nữ = 1110/1090, chiếm 50,5% và 49,5%

 Biểu đồ 1: Tình trạng bệnh trước xạ phẫu

2124 Capture

Nhận xét: 61,6% bệnh nhân chưa được điều trị; 11,8% sau phẫu thuật còn lại u, 6,4% sau phẫu thuật tái phát; 5,5% đã xạ phẫu dao gamma quay tái phát; 5,1% đã xạ trị gia tốc u thu nhỏ có chỉ định xạ phẫu dao gamma quay; các trường hợp khác chiếm tỷ lệ ít hơn.

Bảng 2: Các dấu hiệu lâm sàng thường gặp trước xạ phẫu

Triệu chứng

Số lượng

(n)

Tỷ lệ

(%)

 

Triệu chứng

Số lượng

(n)

Tỷ lệ

(%)

Đau đầu

1760

80

Giảm thính lực

154

7

Buồn nôn, nôn

820

37,3

Mất thính lực

82

3,7

Động kinh

540

24,5

Liệt VII

72

3,3

Bán manh

92

4,2

To viễn cực

62

2,8

Giảm thị lực

286

13

Tiết sữa

120

5,5

Nhìn đôi

84

3,8

Mất kinh

92

4,2

Mất thị lực

56

2,5

Giảm tình dục

320

14,5

Ù tai

154

7

Giảm trí nhớ

586

26,6

Yếu ½ người

274

12,5

Rối loạn cơ tròn

42

1,9

Liệt ½ người

90

4,1

Sụp mi

42

1,9

Hội chứng tiểu não

160

7,3

Rối loạn ý thức

98

4,5

Mất khứu giác

62

2,8

 

 

 

         Nhận xét: 80% bệnh nhân có biểu hiện đau đầu; 13% giảm thị lực; 37,3% có dấu hiệu buồn nôn, nôn; 26,6% giảm trí nhớ; yếu ½ người: 12,5%; động kinh: 24,5% …Các dấu hiệu lâm sàng khác chiếm tỷ lệ ít hơn.

Bảng 3: Tỷ lệ một số loại u và bệnh lý sọ não thường gặp

Loại tổn thương

Số lượng (n)

Tỷ lệ (%)

U tuyến yên

302

13,7

U màng não

372

16,9

AVM

363

16,5

U sọ hầu

88

4

U tuyến tùng

134

6,1

U máu thể hang

172

7,8

U dây VIII

154

7

U nguyên bào tủy

72

3,3

Di căn não

212

9,6

U thần kinh đệm

164

7,5

U màng não thất

74

3,4

Lymphoma

20

0,9

Khác

73

3,3

Tổng

2200

100

Nhận xét: Loại u thường gặp nhất là u màng não chiếm 16,9%, sau đó là dị dạng mạch não 16,5%, u tuyến yên 13,7%, ung thư di căn não 9,6%, u máu thể hang 7,8%, u thần kinh đệm 7,5 %...Các loại u và bệnh lý sọ não khác chiếm tỷ lệ thấp hơn.

Bảng 4: Phân loại u theo vị trí

Phân loại u theo vị trí

Số lượng (n)

Tỷ lệ (%)

 

 

U trên lều

Trán

210

9,5

 

 

 

66,6

Thái dương

469

21,3

Đỉnh

210

9,5

Chẩm

158

7,2

U hệ thống não thất

129

5,9

U nền sọ

100

4,6

U xoang hang

190

8,6

U dưới lều

Thân não

86

3,9

9,4

U tiểu não

120

5,5

U ngoài trục và u tuyến

528

24

24

Tổng

2200

100

Nhận xét: Chủ yếu là u trên lều chiếm 66,6% ; u dưới lều chiếm 9,4% trong đó đặc biệt u thân não chiếm 3,9% ; tỷ lệ còn lại thuộc các u ngoài trục và các u tuyến.

 Bảng 5: Kích thước (cm) và thể tích trung bình của tổn thương (cm3)

Loại bệnh

Số lượng

(n=2200)

Kích thước (cm)

Min

Max

c± SD

U tuyến yên

302

0,2

5,8

2,5±1,5

U màng não

372

0,8

6,8

3,4±2,2

AVM

363

0,4

6,2

3,6±2,3

U sọ hầu

88

0,4

4,5

2,4±1,2

U tuyến tùng

134

0,8

3,7

2,0±2,1

U máu thể hang

172

0,9

4,0

2,1±0,4

U dây VIII

154

1,1

4,2

2,3±1,6

U nguyên bào tủy

72

1,0

3,5

2,5±1,2

Di căn não

212

1,4

4,1

3,2±1,4

U thần kinh đệm

164

1,3

6,2

3,7±2,9

U màng não thất

74

0,6

4,2

2,8±1,7

Lymphoma

20

1,3

4,6

3,6± 2,3

Các loại tổn thương khác

73

0,3

4,6

2,6±2,6

Kích thước trung bình

0,2

6,8

2,4±1,6

         Nhận xét: Kích thước trung bình của các loại tổn thương là 2,4 ± 1,6 cm; nhỏ nhất là 0,2cm; lớn nhất là 6,8cm.

Bảng 6: Liều xạ phẫu cho một số loại u và bệnh lý sọ não (Gy)

Liều xạ

Loại bệnh

Số lượng (n=2200)

Số lần trung bình RGK

Min

Max

Trung

bình

SD

U tuyến yên

302

1,12

8

26

14,4

2,1

U màng não

372

1,06

10

28

22,5

2,7

AVM

363

1,04

12

26

20,4

1,8

U sọ hầu

88

1

10

16

12,8

1,4

U tuyến tùng

134

1,08

10

22

16,3

1,8

U máu thể hang

172

1

14

26

24,2

2,1

U dây VIII

154

1,1

12

16

14,1

1,9

U nguyên bào tủy

72

1

12

20

16,1

2,0

Di căn não

212

1,02

12

24

20,2

2,4

U thần kinh đệm

164

1,2

10

22

16,6

2,5

U màng não thất

74

1

14

24

17,3

2,6

Lymphoma

20

1

14

20

15,3

2,7

Các loại tổn thương khác

73

1

10

20

15,1

2,6

Nhận xét: Liều xạ phẫu trung bình khác nhau tùy theo loại bệnh, cao nhất là u máu thể hang 24,2 ± 2,1Gy, thấp nhất là u sọ hầu 12,8±1,4 Gy (isodose 50%).

Biểu đồ 2: Thay đổi kích thước tổn thương trung bình theo thời gian sau xạ phẫu

2124 image 2Capture

Nhận xét: Kích thước trung bình của tổn thương trước điều trị 2,4±1,6 cm.

Sau điều trị: kích thước khối u kiểm soát được theo thời gian, cho đến năm thứ 5 kích thước tổn thương giảm còn 0,4±0,6cm.

Biểu đồ 3: Tỷ lệ (%) bệnh nhân cải thiện triệu chứng cơ năng sau điều tr

2124 image 3 Capture

Các triệu chứng lâm sàng cải thiện dần theo thời gian. 72% hết triệu chứng ở năm thứ 1; sau 2 năm là 80,8%; sau 3 năm: 83,4%; sau 4 năm: 84,1%; sau 5 năm: 90,5%. Triệu chứng tái phát lại bắt đầu ở năm thứ 2 là 3%; năm thứ 3 là 4,5%; năm thứ 4 là 7,6%; năm thứ 5 là 9,5%.

 Bảng 7: Tỷ lệ tái phát sau xạ phẫu

Loại bệnh

Sau 1 năm

Sau 2 năm

Sau 3 năm

Sau 4 năm

Sau 5 năm

(n=1900)

(n=1486)

(n=984)

(n=580)

(n=328)

n

%

n

%

n

%

n

%

n

%

U tuyến yên

0

0

5

0,34

4

0,41

4

0,69

2

0,61

U màng não

0

0

6

0,4

5

0,51

5

0,86

6

1,8

AVM

0

0

0

0

2

0,2

3

0,52

1

0,3

U sọ hầu

0

0

5

0,34

3

0,3

0

0

0

0

U tuyến tùng

0

0

2

0,13

4

0,41

6

1

3

0,9

U máu thể hang

0

0

0

0

0

0

0

0

1

0,3

U dây VIII

0

0

0

0

2

0,2

2

0,34

5

1,5

U nguyên bào tủy

0

0

2

0,13

3

0,3

3

0,52

2

0,61

Di căn não

0

0

4

0,27

6

0,61

3

0,52

2

0,61

U thần kinh đệm

0

0

10

0,67

5

0,51

6

1

5

1,5

U màng não thất

0

0

4

0,27

5

0,51

6

1

2

0,61

Lymphoma

0

0

2

0,13

1

0,1

0

0

0

0

Các loại tổn thương khác

0

0

5

0,34

4

0,41

6

1

2

0,61

Tổng

0

0

45

3

44

4,5

44

7,6

31

9,5

Nhận xét: những tác dụng phụ sau xạ phẫu hết dần sau khi điều trị nội khoa. Theo thời gian tỷ lệ tái phát tăng dần: năm thứ 2 là 3%; năm thứ 3 là 4,5%; năm thứ 4 là 7,6%; năm thứ 5 là 9,5%.

Bảng 8: Tác dụng phụ và biến chứng sau xạ phẫu

Triệu chứng

Sau 3 tháng

Sau 6 tháng

Sau 1 năm

Sau 2 năm

Sau 3 năm

Sau 4 năm

Sau 5 năm

(n=2120)

(n=2090)

(n=1900)

(n=1486)

(n=984)

(n=580)

(n=328)

n

%

n

%

n

%

n

%

n

%

n

%

n

%

Đau đầu

620

29,2

341

16,3

106

5,6

60

4

46

4,7

72

12,4

63

19,2

Mất ngủ

814

38,4

543

26

92

4,8

0

0

0

0

51

8,8

40

12,2

Rụng tóc

216

10,2

86

4,1

0

0

0

0

0

0

0

0

0

0

Động kinh

336

15,8

180

8,6

102

5,4

48

3,2

52

5,3

61

10,5

32

9,8

Viêm da vùng xạ phẫu

65

3,1

0

0

0

0

0

0

0

0

0

0

0

0

Giảm tiết nước bọt

164

7,7

244

11,7

0

0

0

0

0

0

0

0

0

0

Mệt mỏi

826

39

674

32,2

309

16,3

126

8,5

68

6,9

103

17,8

50

15,2

Chán ăn

723

34,1

310

14,8

123

6,5

98

6,6

87

8,8

95

16,4

81

24,7

Sút cân

142

6,7

91

4,4

42

2,2

45

3

44

4,5

51

8,8

34

10,4

Giảm trí nhớ

360

17

110

5,3

56

2,9

45

3

44

4,5

58

10

59

18

Nhận xét: các dấu hiệu xuất hiện chủ yếu ở tháng thứ 3 như mệt mỏi: 39%, mất ngủ: 38,4%, chán ăn: 34,1%, đau đầu: 29,2%, các triệu chứng khác chiếm tỷ lệ ít hơn. Từ tháng thứ 6 đến trở đi tỷ lệ các biến chứng này ít gặp hơn. Không có bệnh nhân nào bị tai biến hoặc tử vong trong quá trình tiến hành xạ phẫu.

 IV. BÀN LUẬN

Dao gamma đầu tiên do Lars Leksell (Người Thuỵ điển) sử dụng năm 1968 để điều trị một số bệnh lý sọ não. Nguyên lý là sử dụng nhiều chùm tia gamma hội tụ tại một điểm làm tăng liều phóng xạ tại điểm đó để huỷ diệt tổn thương nằm sâu trong não mà không gây chảy máu, nhiễm trùng, ít gây tổn th­ương tổ chức lành xung quanh. Các chùm tia gamma của nguồn Co-60 chiếu từ nhiều hư­ớng khác nhau nh­ưng có thể điều chỉnh để hội tụ lại tại tổ chức bệnh lý cần phá huỷ. Phương tiện này giúp loại bỏ tổ chức bệnh lý trong não mà không cần phẫu thuật mở hộp sọ, mang lại rất nhiều lợi ích cho bệnh nhân và xã hội.

Hệ thống dao gamma quay (RGK) gồm hệ thống các collimator quay quanh đầu, hệ thống APS tự động định vị có độ chính xác rất cao (0,1mm) kết hợp với máy chụp CT hay MRI mô phỏng tùy theo từng loại bệnh và phần mềm lập kế hoạch xạ phẫu Orisix 4D giúp cho việc lập kế hoạch nhanh, chính xác và hiệu quả.

4,1, Tuổi và giới

Từ tháng 7 năm 2007 hệ thống RGK do Hoa Kỳ sản xuất lần đầu đ­ược ứng dụng tại Trung tâm Y học hạt nhân và Ung b­ướu bệnh viện Bạch Mai, chỉ định điều trị cho u não và một số bệnh lý sọ não. Sau 5 năm hoạt động chúng tôi đã điều trị cho 2200 bệnh nhân có chỉ định xạ phẫu bằng RGK. Tuổi bệnh nhân thấp nhất: 2,5 tuổi, cao nhất: 91 tuổi, trung bình: 45,6, tuổi hay gặp nhất từ 15-60 tuổi chiếm 71,4% (Bảng 1). Nam=50,5/nữ =49,5. Theo nghiên cứu của Nguyễn Phong thì tuổi thường gặp từ 10-67 tuổi, tuổi trung bình 40,2, trong đó tỉ lệ nam chiếm 48,6%, nữ chiếm 51,4% [10]. Theo Trouillas J, Girod C tỉ lệ nam/nữ chiếm 3/4 cũng phù hợp với nghiên cứu của chúng tôi. Tác giả Costas G, Hadjipanayis và cộng sự đã xạ phẫu GK với các u sao bào bậc thấp thì độ tuổi có chỉ định xạ phẫu nhỏ nhất là 6 tuổi [2]. Trong nghiên cứu của chúng tôi, tuổi thấp nhất là 2,5 tuổi, ở nước ta chưa có bệnh nhân nào được xạ phẫu ở lứa tuổi này và đây cũng thể hiện tính ưu việt của phương pháp xạ phẫu bằng dao gamma quay.

4,2, Triệu chứng cơ năng

         Kết quả nghiên cứu ở 2200 bệnh nhân với chẩn đoán u não và các bệnh lý sọ não khác nhau có chỉ định xạ phẫu bằng dao gamma quay thì 80% bệnh nhân có biểu hiện đau đầu; 13% giảm thị lực; 37,3% có dấu hiệu buồn nôn, nôn; 26,6% giảm trí nhớ; yếu ½ người: 12,5%; động kinh: 24,5% …Các dấu hiệu lâm sàng khác chiếm tỷ lệ ít hơn tùy thuộc vào từng vị trí, kích thước khối u…(Bảng 2). Các triệu chứng này cải thiện ngay ở tháng thứ 1 sau xạ phẫu và cải thiện tốt ở tháng thứ 6 trở đi, 72% hết triệu chứng ở năm thứ 1; 80,8% hết triệu chứng ở năm thứ 2; 83,4% hết triệu chứng ở năm thứ 3; 84,1% hết triệu chứng ở năm thứ 4; 90,5% hết triệu chứng ở năm thứ 5. Theo nghiên cứu của trường đại học Virginia thì triệu chứng cơ năng và thực thể chủ yếu phụ thuộc vào vị trí và kích thước khối u gây nên hội chứng tăng áp lực nội sọ hay chèn ép khu vực thần kinh chi phối [10]. Nghiên cứu của chúng tôi cũng phù hợp với đánh giá của các tác giả này.

4,3, Đặc điểm tổn thương

Loại u thường gặp nhất là u màng não chiếm 16,9%, sau đó là dị dạng mạch não 16,5%, u tuyến yên 13,7%, ung thư di căn não 9,6%, u máu thể hang 7,8%, u thần kinh đệm 7,5 %...Các loại u và bệnh lý sọ não khác chiếm tỷ lệ thấp. Phân loại theo vị trí chủ yếu là u trên lều chiếm 66,6% ; u dưới lều chiếm 9,4% trong đó đặc biệt u thân não chiếm 3,9% ; tỷ lệ còn lại thuộc các u ngoài trục và các u tuyến.

Trong đó 61,6% bệnh nhân chưa được điều trị; 11,8% sau phẫu thuật còn lại u, 6,4% sau phẫu thuật tái phát; 5,5% đã xạ phẫu dao gamma quay tái phát; 5,1% đã xạ trị gia tốc u thu nhỏ có chỉ định xạ phẫu dao gamma quay; các trường hợp khác chiếm tỷ lệ ít hơn. (Biểu đồ 1).

Về kích thước: 2200 bệnh nhân được tiến hành đo kích thước khối u theo tiêu chuẩn RECIST (đo đường kính lớn nhất của tổn thương [3]), (Bảng 5). Kết quả nghiên cứu cho thấy kích thước tổn thương trung bình là 2,4 ± 1,6cm, nhỏ nhất là 0,2cm, lớn nhất là 6,8cm. Kích thước trung bình của khối u giảm dần theo thời gian: sau 1 năm là 2±0,8cm; sau 2 năm 1,9±1,2cm; sau 3 năm 1,4±0,8cm; sau 4 năm 0,8±1,1cm; sau 5 năm 0,4±0,6cm. Với những khối u có đường kính lớn hơn 5cm là những trường hợp tái phát sau điều trị không còn khả năng phẫu thuật mổ mở vì vậy chúng tôi tiến hành xạ phẫu nhằm giảm tốc độ phát triển của khối. Theo Costas G, Hadjipanayis và cộng sự nghiên cứu 37 bệnh nhân u tế bào hình sao được xạ phẫu bằng RGK, thể tích tổn thương trung bình 3,3cm3 với liều xạ phẫu trung bình ở bờ khối u là 15Gy, kiểm soát được 92% khối u trong 32 tháng [2]. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy RGK bắt đầu kiểm soát được khối u từ tháng thứ 6 trở đi. Điều đó cho thấy rằng RGK có vai trò kiểm soát u sớm hơn và cao hơn các phương pháp điều trị khác. Tuy nhiên chúng tôi tiến hành khảo sát tất cả các bệnh nhân sau RGK ở tháng thứ 3 cho thấy kích thước trung bình khối u tăng hơn so với trước khi điều trị, vấn đề này cho thấy ở tháng thứ 3 RGK đã bắt đầu phát huy tác dụng, phá hủy khối u gây phù não quanh u kèm theo.

Liều xạ phẫu phụ thuộc nhiều yếu tố như loại bệnh, vị trí tổn thương, các tổ chức liền kề, kích thước u…tất cả các bệnh nhân điều trị chúng tôi sử dụng liều chỉ định là đường đồng liều 50% (isodose curve 50% tức là đường liều quanh tổn thương là 50%), trong quá trình lập kế hoạch điều trị có tham khảo các đường đồng liều khác 30%, 40%, 70%, 90%,,, để kiểm tra sự phân bố liều xạ đối với các cấu trúc giải phẫu của não và mô bệnh [1], [4], [5], [6], [7].

Kinh nghiệm điều trị 2200 bệnh nhân u não và bệnh lý sọ não bằng dao gamma quay tại Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu-Bệnh viện Bạch Mai, cho thấy đây là một phương pháp điều trị an toàn, hiệu quả, đặc biệt cho các bệnh nhân nhỏ tuổi và người già.

4,4, Tác dụng phụ: Các dấu hiệu xuất hiện chủ yếu ở tháng thứ 3 như mệt mỏi: 39%, mất ngủ: 38,4%, chán ăn: 34,1%, đau đầu: 29,2%, các triệu chứng khác chiếm tỷ lệ ít hơn. Từ tháng thứ 6 đến trở đi tỷ lệ các biến chứng này ít gặp hơn. Không có bệnh nhân nào bị tai biến hoặc tử vong trong quá trình tiến hành xạ phẫu.

IV. KẾT LUẬN

Từ tháng 7 năm 2007 tới tháng 1 năm 2013 Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu-Bệnh viện Bạch Mai đã tiến hành xạ phẫu cho 2200 bệnh nhân có khối u não và bệnh lý sọ não bằng dao gamma quay, kết quả thu được như sau:

  1. Trước xạ phẫu:

-          Bệnh nhân được xạ phẫu có độ tuổi từ 4 tới 91 tuổi (trung bình 45,6 tuổi), hay gặp nhất ở nhóm tuổi 15- 60 chiếm tỷ lệ 71,4%, Tỷ lệ nam=50,5/nữ=49,5.

-   u màng não chiếm tỷ lệ cao nhất 16,9%, sau đó là dị dạng mạch não 16,5%, u tuyến yên 13,7%, ung thư di căn não 9,6%, u máu thể hang 7,8%, u thần kinh đệm 7,5 %...Các loại u và bệnh lý sọ não khác chiếm tỷ lệ thấp. Phân loại theo vị trí chủ yếu là u trên lều chiếm 66,6% ; u dưới lều chiếm 9,4% trong đó đặc biệt u thân não chiếm 3,9% ; tỷ lệ còn lại thuộc các u ngoài trục và các u tuyến.

-   Kích thước tổn thương trung bình là 2,4 ± 1,6cm, nhỏ nhất là 0,2cm, lớn nhất là 6,8cm. Liều xạ phẫu từ 8-28 Gy, trong đó liều trung bình cao nhất là cho u máu thể hang: 24,2 ± 2,1Gy, thấp nhất là u sọ hầu: 12,8±1,4 Gy (isodose 50%).

  1. Sau xạ phẫu:

-          Các triệu chứng này cải thiện ngay ở tháng thứ 1 sau xạ phẫu và cải thiện tốt ở tháng thứ 6 trở đi, 72% hết triệu chứng ở năm thứ 1; 80,8% hết triệu chứng ở năm thứ 2; 83,4% hết triệu chứng ở năm thứ 3; 84,1% hết triệu chứng ở năm thứ 4; 90,5% hết triệu chứng ở năm thứ 5.

-   Kích thước trung bình của khối u giảm dần theo thời gian: sau 1 năm là 2±0,8cm; sau 2 năm 1,9±1,2cm; sau 3 năm 1,4±0,8cm; sau 4 năm 0,8±1,1cm; sau 5 năm 0,4±0,6cm.

-   Theo thời gian tỷ lệ tái phát tăng dần: bắt đầu ở năm thứ 2 là 3%; năm thứ 3 là 4,5%; năm thứ 4 là 7,6%; năm thứ 5 là 9,5%

-   Xạ phẫu bằng dao gamma quay đối với các u não và bệnh lý sọ não là một phương pháp điều trị an toàn, hiệu quả, đặc biệt cho các bệnh nhân nhỏ tuổi và người già ở nước ta.

-   Các tác dụng phụ chủ yếu gặp ở tháng thứ 3 như mệt mỏi: 39%, mất ngủ: 38,4%, chán ăn: 34,1%, đau đầu: 29,2%... các triệu chứng khác chiếm tỷ lệ ít hơn. Từ tháng thứ 6 đến trở đi tỷ lệ các biến chứng này ít gặp hơn và cải thiện tốt sau điều trị thuốc nội khoa. Không có bệnh nhân nào bị tai biến hoặc tử vong trong quá trình tiến hành xạ phẫu.

 MỘT SỐ HÌNH ẢNH MINH HỌA

1. U tuyến yên

Bệnh nhân Trần Bích D, nữ 33 tuổi, vào viện vì đau đầu, nhìn mờ. Chụp MRI sọ não chẩn đoán u tuyến yên, chèn ép dây giao thoa thị giác, Chỉ định xạ phẫu RGK, liều 14Gy

2124 1 Capture

2. U màng não

a. Bệnh nhân Nguyễn Đ, T, nam, 32 tuổi. Chẩn đoán: U màng não. Chỉ định: xạ phẫu bằng RGK, liều 20 Gy

2124  2 Capture

b. Bệnh nhân Đinh T , V, 52 tuổi, vào viện vì đau đầu nhiều, nôn, tê yếu nửa người trái, chẩn đoán u màng não nền sọ chèn ép thân não, dây thị giác. Bệnh nhân được xạ phẫu Gamma Knife liều 18 Gy. Trước điều trị: u màng não nền sọ to, kích thước 3,9 x 4,1 x 4,9 cm, u chèn ép thân não gây yếu tê nửa người trái, đau đầu nhiều, không có khả năng điều trị bằng phương pháp khác.

2124 3 Capture

3. Tổn thương não do ung thư di căn

Bệnh nhân Nguyễn Văn Th, nam, 50 tuổi, Chấn đoán: Ung thư phổi di căn não. Chỉ định: RGK liều 18Gy

2124 4 Capture

4. U thân não

BN Hồ. V. Th, nam, 46 t vào viện vì yếu ½ người (P), CĐ Cavernoma thân não, xạ phẫu dao gamma quay, liều 16Gy

2124 5 Capture

5. U lympho ở não

Bệnh nhân Nguyễn Thị H. L, nữ, 34 tuổi. Chẩn đoán: NH Lymphoma đã điều trị hóa chất 6 đợt, xạ gia tốc 60Gy. Chỉ định: RGK liều 14 Gy

2124 6 Capture

6. Dị dạng mạch não

Bệnh nhân Nguyễn Văn N., nam,   37 tuổi, vào viện vì đau đầu, chẩn đoán AVM. Chỉ định xạ phẫu dao gamma quay liều 20Gy. Trước xạ phẫu kích thước khối u 3x2 cm và 8x1,9cm; sau xạ phẫu 4 năm khối u tan hết.

2124 7 Capture

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Buatti JM, Friedman WA, Bova FJ, et al: Treatment selection factors for stereotactic radiosurgery of intracranial metastases, Int J Radiat Oncol Biol Phys 32:1161-1166, 1995
  2. Costas G, Hadjipanayis, M,D,, Douglas Kondziolka, M,D,, M,Sc,, John C, Flickinger, M,D,, L, Dade Lunsford, M,D: The Role of Stereotactic Radiosurgery for Low-Grade Astrocytomas, Neurosurg Focus, 2003;14(5)
  3. E,A, Eisenhauera,*, P, Therasseb, J, Bogaertsc, L,H, Schwartzd, D, Sargente, R, Fordf, J, Danceyg, S, Arbuckh, S, Gwytheri, M, Mooneyg, L, Rubinsteing, L, Shankarg, L, Doddg, R, Kaplanj, D, Lacombec, J, Verweijk , New response evaluation criteria in solid tumor
  4. Flickinger JC, Kondziolka D, Lunsford LD: Dose and diameter relationships for facial, trigeminal, and acoustic neuropathies following acoustic neuroma radiosurgery, Radiother Oncol 41:215 219, 1996
  5. Flickinger JC, Lunsford LD, Kondziolka D: Dose prescription and dose-volume effects in radiosurgery, Neurosurg Clin N Am 3:51 59, 1992
  6. Flickinger JC, Nelson PB, Martinez AJ, et al: Radiotherapy of nonfunctional adenomas of the pituitary gland, Results with long-term follow-up, Cancer 63:2409 2414, 1989
  7. Flickinger JC: An integrated logistic formula for prediction of complications from radiosurgery, Int J Radiat Oncol Biol Phys 17:879 885, 1989
  8. Foote KD, Friedman WA, Buatti JM, et al: Linear accelerator radiosurgery in brain tumor management, Neurosurg Clin N Am 10:203 242, 1999
  9. Leksell L: The stereotaxic method and radiosurgery of the brain, Acta Chir Scand 102:316 319, 1951
  10. Phan Sỹ An, Mai Trọng Khoa, Trần Đình Hà (2007): Dao gamma một công cụ xạ phẫu sọ não tiên tiến, Tạp chí y học lâm sàng, Bệnh viện Bạch Mai.

Evaluating outcomes in treating 1700 brain tumors and intracranial diseases patients with Rotating Gamma Knife (RGK) at The Nuclear Medicine and Oncology Center Bach Mai Hospital

Aims: To assess the effects of treating 2200 patients with brain tumors as well as intracranial diseases by rotating gamma knife (RGK) at The Nuclear Medicine and Oncology Center, Bach Mai Hospital from July 2007 to January 2013. Patients: 2200 patients diagnosed with brain tumors and intracranial diseases were prescribed radiosurgery by RGK. Results: Average age is 45,6 years old. Ages at the time of radiosurgery ranged from 4 (youngest) to 91 (oldest). The male=50,5/female=49,5. In our study, 2200 patients including meningioma (16,9%), arteriovenous malformations (AVMs, 16,5%), metastatic (9,6%), cavernoma (7,8%), Astrocytoma (7,5 %) etc. Other kinds of tumors are less common. The median tumor size was 2,4 ± 1,6 cm (range 0,2–6,8 cm). The median prescribed dose was varied (depending on nature of the tumor): pituitary tumor (14,4±2,1Gy), meningioma (22,5±2,7Gy), AVM (20,4±1,8 Gy), acoustic neuroma (14,1±1,9 Gy), brain metastases (20,2±2,4 Gy), craniopharyngeal tumor (12,8±1,4Gy), pineal tumor (16,3±1,8Gy), cavernoma (24,2±2,1Gy), Astocytoma (16,6±2,5Gy), medulloblastoma (16,1±2Gy), ependymoma (17,3±2,6Gy), lymphoma (15,3±2,7Gy), others (15,1±2,6Gy. Conclusions: In comparison with pretreatment, clinical symptoms have been improved in the patients after one month. Complete clinical response at 1 year: 72%; 2 years: 80,8%; 3 years: 83,4%; 4 years: 84,1%; 5 years: 90,5%. But 3% patients had a progression in 2 years; 4,5% in 3 years; 7,6% in 4 years and 9,5% in 5 years. Avarage sizes of the tumors were reduced remarkably, started from 3rd to 1 year after treatment: 2±0,8cm; after 2 years: 1,9±1,2cm; 3 years: 1,4±0,8cm; 4 years: 0,8±1,1cm; 5 years: 0,4±0,6cm.

Radiosurgery for treating brain tumors and intracranial diseases with Rotating Gamma Knife is safe and effecitive, especially for children and olders.

Nguồn: ungthubachmai.com.vn

Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Tem dan Don vi Gen tri lieu 1

logo vinmec

Hỗ trợ  

Joomla Templates and Joomla Extensions by ZooTemplate.Com
Hotline: 1900575758 phím 2

Clip

Đối tác chiến lược

chung cư imperia garden

Quảng cáo

Banner

Hình ảnh tiêu biểu

Đối tác chiến lược

chung cư imperia garden

Thống kê

Members : 7347
Content : 1268
Web Links : 3
Content View Hits : 358396