Ca lâm sàng

Ca lâm sàng: điều trị bệnh nhân Ung thư phổi di căn gan, não tại Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu Bệnh viện Bạch Mai

CA LÂM SÀNG: ĐIỀU TRỊ U MÔ ĐỆM ĐƯỜNG TIÊU HÓA (GIST) BẰNG PHẪU THUẬT VÀ ĐIỀU TRỊ ĐÍCH TẠI BỆNH VIỆN BẠCH MAI

 

Bệnh nhân mắc bệnh ung thư kèm theo dị tật bẩm sinh đường sinh dục

Điều trị ung thư tuyến giáp thể biệt hóa bằng I-131 tái phát di căn hạch cổ sau 9 năm

ĐIỀU TRỊ UNG THƯ VÚ TIẾN TRIỂN, DI CĂN TẠI TRUNG TÂM Y HỌC HẠT NHÂN VÀ UNG BƯỚU

Ca lâm sàng: Điều trị ung thư tuyến giáp thể nhú di căn hạch, phổi bằng I131 tại trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu Bệnh viện Bạch Mai

Ca lâm sàng tổn thương gan liên quan đến ký sinh trùng

Ca lâm sàng: Điều trị ung thư tuyến giáp thể nhú di căn hạch, phổi bằng I131 tại trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu Bệnh viện Bạch Mai

Kết quả sau 6 năm điều trị bệnh ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn muộn

Ca lâm sàng: Điều trị u thần kinh đệm ác tính tại não ở người lớn bằng phác đồ hóa – xạ trị đồng thời

Điều trị hiệu quả ung thư gan nguyên phát tại Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu - Bệnh viện Bạch Mai

Bệnh nhân Ung thư phổi sau 6 năm điều trị hiện bệnh ổn định tại Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu - Bệnh viện Bạch Mai

GS.TS. Mai Trọng Khoa, BSNT. Nguyễn Thị Hoa Mai

Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu - Bệnh viện Bạch Mai

 

Họ tên            : Nguyễn Thị L., nữ, 54 tuổi

Địa chỉ           : Hà Nội

Vào viện        : Tháng 12/2019

Lý do vào viện: Tự sờ thấy hạch ngoại vi.

Bệnh sử: Cách vào viện 1 tháng, bệnh nhân tự sờ thấy hạch ngoại vi nhiều vị trí: nách, bẹn 2 bên. Khối hạch bẹn trái kích thước lớn kèm phù chân trái, không sốt, không gầy sút cân. Bệnh nhân nhập viện chẩn đoán và điều trị.

Tiền sử: Khỏe mạnh.

Khám vào viện:

  • Thể trạng trung bình, cao 155cm, nặng 50kg
  • Da, niêm mạc hồng
  • Phù mềm chân trái, ấn lõm
  • Hạch cổ, hạch nách, hạch bẹn 2 bên số lượng nhiều, mềm, di động. Khối hạch bẹn trái kích thước 8cm, di động hạn chế.
  • Bụng mềm, gan lách không sờ thấy
  • Không liệt, không có dấu hiệu thần kinh khu trú
  • Tim nhịp đều, T1,T2 rõ. Không có tiếng tim bệnh lý
  • Phổi rì rào phế nang 2 bên rõ, không rales
  • Các cơ quan khác chưa phát hiện bất thường.

Xét nghiệm cận lâm sàng:

  • Công thức máu: Trong giới hạn bình thường:

Hồng cầu: 4,45T/L, Bạch cầu: 5,01G/L, Tiểu cầu: 362G/L

  • Hóa sinh máu: Chức năng gan, thận trong giới hạn bình thường

Ure: 3,2 mmol/l, Creatinin: 56 umol/l

GOT: 34 U/L, GPT: 23 U/L,

LDH tăng cao: 539 UI/L  

ß2microglobulin: 2,04 mg/L

  • Vi sinh: Không bị viêm gan B, viêm gan C.
  • Chọc tế bào học hạch bẹn trái: Hình ảnh tế bào học hướng đến lymphoma.
  • Sinh thiết hạch bẹn trái: Hình ảnh mô bệnh học và nhuộm hóa mô miễn dịch phù hợp với u lympho ác tính không Hodgkin lan tỏa, tế bào B lớn, CD20 dương tính.
  • Siêu âm tim: Chức năng tâm thu thất trái trong giới hạn bình thường: EF: 67%
  • Siêu âm Doppler chi dưới: không có huyết khối tĩnh mạch chi dưới 2 bên.
  • Xét nghiệm huyết tủy đồ: Không có tế bào ác tính.
  • Bệnh nhân được tiến hành chụp PET/CT đánh giá giai đoạn trước điều trị (Tháng 12/2019). Kết quả cho thấy:

- Nhiều hạch cổ, hạch góc hàm hai bên, hạch thượng đòn phải, kích thước lớn nhất 2,6x3,0cm, tăng hấp thu 18FDG, max SUV=8,4

- Nhiều hạch hố nách hai bên, hạch trung thất, kích thước lớn nhất 2,8x2,9cm, tăng hấp thu 18FDG, max SUV=8,3

- Nhiều hạch to vùng ổ bụng, tiểu khung, hạch bẹn hai bên, kích thước lớn nhất: 6,4x12,4cm, max SUV=12,6.

1

Hình 1: Hạch cổ, hạch góc hàm hai bên, hạch thượng đòn phải (mũi tên đỏ)


2

Hình 2: Hạch hố nách hai bên, hạch trung thất (mũi tên đỏ)

 

3

Hình 3: Hạch to vùng ổ bụng, tiểu khung, hạch bẹn hai bên (mũi tên đỏ)

 

Chẩn đoán xác định: Nonhodgkin Lymphoma tế bào B lớn lan tỏa, CD20 dương tính. Giai đoạn IIIA

Điều trị: Phác đồ hóa trị R-CHOP, chu kỳ 21 ngày x 6 chu kỳ. Liều cụ thể:

-          Cyclophosphamide 750mg/m2 truyền TM ngày 1

-          Doxorubicin 50mg/m2 truyền TM ngày 1

-          Vincristin 1,4mg/m2 truyền TM ngày 1, liều cao nhất là 2mg

-          Prednisolone 100mg/m2 uống ngày 1-5

-          Rituximab 375mg/m2 truyền TM ngày 1.

ĐÁNH GIÁ SAU 6 CHU KỲ HÓA TRỊ

Hiệu quả sau 6 chu kỳ điều trị: Bệnh đáp ứng hoàn toàn.

  • Lâm sàng: Bệnh nhân hết hoàn toàn hạch cổ, hạch nách, hạch bẹn 2 bên, chân trái hết phù.
  • Cận lâm sàng:

     Xét nghiệm hóa sinh máu:      LDH bình thường: 206 UI/L  

ß2microglobulin: 2,12 mg/L.

     Siêu âm hạch cổ, hạch nách, hạch bẹn 2 bên: không còn hình ảnh hạch bệnh lý.

     Siêu âm tim: Chức năng tâm thu thất trái trong giới hạn bình thường.

  • Chụp cắt lớp vi tính ngực - bụng: Không phát hiện hạch trung thất, hạch ổ bụng. 

4

Hình 4: Không phát hiện hạch trung thất, hạch nách

 

5

Hình 5: Không phát hiện hạch ổ bụng

 

Tác dụng phụ: Bệnh nhân có tác dụng phụ trong quá trình điều trị hạ bạch cầu độ 3, không sốt ở chu kỳ thứ 2 hóa chất. Sau khi được xử trí bằng thuốc kích bạch cầu Filgrastim 300mcg tiêm dưới da, bạch cầu hồi phục hoàn toàn. Bệnh nhân được tiếp tục điều trị hóa trị đủ 6 chu kỳ.

 

SO SÁNH TRƯỚC VÀ SAU 6 CHU KỲ HÓA TRỊ


6

 

 

7

 

Tóm lại:

Bệnh nhân nữ, 55 tuổi. Chẩn đoán: Non hodgkin Lymphoma tế bào B lớn lan tỏa, CD20 dương tính; Giai đoạn IIIA. Sau điều trị 6 chu kỳ hóa chất R-CHOP, bệnh đáp ứng hoàn toàn.

Bệnh nhân được tiếp tục theo dõi, tái khám 3 tháng/ lần.


ungthubachmai.vn

GS .TS. Mai Trọng Khoa,

Ths. Nguyễn Thanh Hùng, PGS. TS. Phạm Cẩm Phương

Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu – Bệnh viện Bạch Mai

 

 

Họ tên bệnh nhân: Đ.T.T, nữ 53 tuổi, có tiền sử khỏe mạnh.

Bệnh khởi phát từ tháng 3 năm 2018 với triệu chứng ho kéo dài, đau ngực phải, thỉnh thoảng có cơn co giật cục bộ vùng mặt.

Bệnh nhân đi khám tại bệnh viện tỉnh và được chụp CT lồng ngực (hình 1).

 hình 1

Hình 1: Hình ảnh CT ngực của BN trước khi vào viện: phát hiện thấy có khối u thùy trên phổi bên phải, kèm theo có hạch ở trung thất

 

Bệnh nhân được chuyển đến Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu (TT.YHHN&UB) - Bệnh viện Bạch Mai để chẩn đoán và điều trị.

Khám lâm sàng lúc nhập viện tại bệnh viện Bạch Mai, cho thấy: thể trạng tốt, cao 1m58, nặng 55kg, KPS 1 điểm, tỉnh táo hoàn toàn. Ho khan, đau nhẹ ngực bên phải, đau đầu. Bệnh nhân không khó thở và không liệt vận động. Nghe tim phổi bình thường. Không sốt, không sờ thấy hạch ngoại vi.

Bệnh nhân được làm các xét nghiệm cận lâm sàng và chẩn đoán hình ảnh để chẩn đoán và tiên lượng điều trị. Kết quả các xét nghiệm về tế bào máu, chức năng gan thận trong giới hạn bình thường. Xét nghiệm chất chỉ điểm khối u trong máu cho thấy CEA tăng 21ng/ml, Cifra 21-1 là 8ng/ml.

Kết quả siêu âm ổ bụng và xạ hình xương với 99mTc cho kết quả bình thường.

Chụp cộng hưởng từ sọ não (Hình 2)

  hình 2png

Hình 2: Hình ảnh di căn não 2 ổ trên phim chụp MRI sọ não: Phát hiện 2 ổ tổn thương u não vùng đỉnh hai bán cầu nghi ngờ do di căn có phù não rộng

 

Sinh thiết khối u phổi phải dưới hướng dẫn của CT Scanner cho kết quả mô bệnh học là ung thư biểu mô tuyến của phổi. Sau đó mẫu bệnh phẩm được chuyển đến Đơn vị Gen và Tế bào gốc Trung tâm YHHN&UB, bệnh viện Bạch Mai để phân tích đột biến. Kết quả phân tích gen cho thấy có đột biến mất đoạn trên exon 19 của gen EGFR (Epidermal Growth Factor Receptor).

Sau khi có kết quả chẩn đoán chính xác về bệnh học và sinh học phân tử, bệnh nhân được chụp PET/CT toàn thân để đánh giá chính xác giai đoạn bệnh (Hình 3).

 hình 3

Hình 3: Kết quả PET/CT: khối u thùy trên phổi phải KT 2x3.5cm, tăng hấp thu FDG, maxSUV 12,5, hạch trung thất.

 

Như vậy, bệnh nhân được chẩn đoán xác định: ung thư phổi phải dạng biểu mô tuyến có đột biến EGFR di căn hạch trung thất, di căn não đa ổ (giai đoạn 4: T2N2M1).

Bệnh nhân được điều trị ban đầu để kiểm soát triệu chứng bằng các thuốc chống phù não (manitol, corticosteroid), giảm đau và chống động kinh, an thần.

Tiếp theo, điều trị xạ phẫu 2 khối u di căn não bằng dao gamma quay liều 18Gy, sau khi đã thông qua Hội đồng hội chẩn xạ trị tại TT.YHHN&UB. Trong và sau xạ phẫu BN an toàn, không gặp biến chứng nào.

Phối hợp điều trị toàn thân bằng nhóm thuốc phân tử nhỏ TKIs (Tyrosin Kinase Inhibitor), liều cụ thể: Erlotinib (Tarceva) 150mg/ngày. Uống liên tục hàng ngày và theo dõi các tác dụng không mong muốn trong quá trình điều trị. Đánh giá đáp ứng điều trị sau 6 tháng, 1 năm, 2 năm…

- Kết quả điều trị sau 6 tháng: Bệnh nhân có cải thiện tốt các triệu chứng lâm sàng, xét nghiệm CEA giảm xuống còn 9,5ng/ml.

Bệnh nhân được chụp CT lồng ngực và Cộng hưởng từ (MRI) sọ não để kiểm tra và đánh giá sau điều trị (hình 4).hình 4

Hình 4: So sánh kết quả trước và sau điều trị 6 tháng

Kết quả cho thấy: khối u phổi giảm kích thước, hạch trung thất tan hết. Tổn thương di căn não cũng thu nhỏ kích thước, hết phù não.

 

- Kết quả điều trị sau 12 tháng và 24 tháng (hình 5): Cải thiện lâm sàng hoàn toàn. Xét nghiệm CEA: 4,27ng/ml và 2,02ng/ml tương ứng. Trên hình ảnh bệnh đáp ứng gần như hoàn toàn.

hình 5

Hình 5: So sánh kết quả điều trị sau 12 và 24 tháng: Không còn khối u ở phổi và ở não.

Một vài thông tin về ung thư phổi không tế bào nhỏ di căn não, có đột biến EGFR.

Trong ung thư phổi không tế bào nhỏ, tỷ lệ di căn não chiếm trên 30% các trường hợp theo nhiều nghiên cứu khác nhau. BN ung thư phổi có di căn não thường tiên lượng xấu, khối u di căn não có thể gây chèn ép não và các cơ quan trọng yếu gây tăng áp lực sọ não gây ra các biến chứng thần kinh như: đau đầu, nôn, động kinh, liệt vận động. Thậm chí trong trường hợp khối u lớn hoặc tổn thương não đa ổ phù nề rộng có thể gây rối loạn ý thức, hôn mê hoặc tử vong.

Cần phải phối hợp đa mô thức trong điều trị ung thư phổi di căn não như: phẫu thuật, xạ trị hoặc xạ phẫu để kiểm soát khối u, đồng thời phối hợp điều trị toàn thân như: hóa trị, điều trị đích, điều trị miễn dịch tùy từng trường hợp cụ thể.

Với bệnh nhân ung thư phổi di căn não có đột biến EGFR, cần phải hiểu hàng rào máu não là yếu tố cản trở sự đáp ứng của các thuốc điều trị TKIs. Điều kiện để các thuốc điều trị qua hàng rào máu não là trọng lượng phân tử thấp, tan trong lipid và không mang điện tích.

Bảng 1: Đặc điểm của một số thuốc TKIs

Thuốc TKIs

Trọng lượng PT

(Da = g/mol)

Tan trong dầu

Mang điện tích

Erlotinib

393,4

+

-

Getifinib

447

+

-

Aphatinib

486

+

-

Osimetinib

596

+

-

Như vậy, hầu hết các thuốc TKIs có khả năng thấm qua hàng rào máu não với các mức độ khác nhau. Erlotinib tỏ ra có khả năng thấm cao nhất do TLPT thấp. Tuy nhiên thuốc Osimetinib cũng có khả năng thấm qua hàng rào máu não rất tốt do đặc điểm sinh học phân tử của mình.

Tác giả Togashi, và cộng sự năm 2012 [1] nghiên cứu so sánh nồng độ và tỷ lệ thấm trong dịch não tủy của Erlotinib và Getifinib cho kết quả: nồng độ trung bình trong dich não tủy của Erlotinib là 66,9±39,0nM so với Getifinib là 8,2±4,3nM. Tỷ lệ thấm trung bình: 2,77±0,45% so với 1,13±0,36% tương ứng.

Khi so sánh với hóa trị, bệnh tiến triển di căn não có thể được trì hoãn đáng kể khi điều trị với TKIs. Nghiên cứu của Heon và cộng sự năm 2012 [2] trên 101 BN ung thư phổi điều trị TKIs so với hóa trị, theo dõi sau 2 năm cho thấy kết quả tỷ lệ tiến triển di căn não ở nhóm điều trị TKIs thấp hơn nhóm điều trị hóa trị (21% so với 32%).

Tóm lại: Thuốc TKIs là lựa chọn tối ưu và hiệu quả trong điều trị bước 1 đối với ung thư phổi không tế bào nhỏ di căn não, có đột biến gen EGFR. Việc phối hợp đa mô thức trong điều trị như xạ phẫu u não di căn bằng dao Gamma quay mang lại hiệu quả kiểm soát u cao.

ungthubachmai.vn

 

 

GS.TS. Mai Trọng Khoa,

PGS. TS. Phạm Cẩm Phương, BSNT. Hoàng Công Tùng,

Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu - Bệnh viện Bạch Mai

 

Bệnh nhân     : Nguyễn H.T., nam, 51 tuổi          

Địa chỉ           : Ch. L. – Hải Dương.

Nghề nghiệp  : Tự do

Vào viện        : 15h30 ngày 03/02/2020.

Lý do vào viện: đau tức bụng

 

Bệnh cảnh.

-      Khoảng tháng 2/2020, bệnh nhân cảm thấy mệt mỏi, ăn kém, gầy sút cân, bụng to dần và kèm theo đau bụng âm ỉ vùng quanh rốn, không sốt, không rối loạn đại tiện, ăn uống bình thường, bệnh nhân đến Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu, Bệnh viện Bạch Mai. Tại đây, bệnh nhân được thăm khám, xét nghiệm máu, siêu âm ổ bụng, chụp cắt lớp vi tính ổ bụng… Kết quả chụp CT ổ bụng cho thấy có hình ảnh khối lớn vùng giữa bụng, kích thước 23x26cm, tỷ trọng hỗn hợp âm bao gồm phần mỡ, tổ chức, vôi hóa. Bệnh nhân được nhập viện để chẩn đoán và điều trị.

-      Tiền sử: Không mắc bệnh nội khoa gì trước đây, gia đình có bố bị ung thư phổi, em trai bị ung thư xương.

Khám lúc vào viện

-      Bệnh nhân tỉnh, tiếp xúc tốt.

-      Thể trạng trung bình, cao: 171cm, nặng: 70kg.

-      Đau tức âm ỉ vùng quanh rốn, không nôn, không rối loạn đại tiện, không sốt.

-      Mạch: 80 lần/phút, huyết áp: 120/70mmHg.

-      Khám bụng: Bụng mềm, sờ thấy 1 khối cứng chắc vùng trên rốn ranh giới rõ, kích thước khoảng 20x22cm, ấn tức, di động hạn chế, da vùng bụng bình thường.

-      Tim đều T1, T2 rõ, không có tiếng tim bệnh lý,

-      Phổi 2 bên rì rào phế nang rõ, không có rales.

-      Các cơ quan khác hiện chưa phát hiện gì bất thường.

Kết quả cận lâm sàng

-      Công thức máu: bình thường.

-      Sinh hóa: men gan, thận, điện giải đồ: bình thường.

-      Chất chỉ điểm u: CEA(Carcinoembryonic Antigene): 2,8ng/ml, CA19-9: 4,1U/ml, CA 72-4 (Cancer Antigene): 1,06U/ml, AFP (Alpha-fetoprotein): 4,25 ng/ml.

-      Nội soi dạ dày: Viêm dạ dày.

-      Nội soi đại tràng: Bình thường.

-      Chụp cắt lớp vi tính lồng ngực: hiện tại chưa phát hiện gì bất thường.

-      Siêu âm ổ bụng: Vùng thượng vị và hạ sườn hai bên khảo sát thấy khối tăng âm không đồng nhất, kích thước lớn choán chỗ, đè đầy các tạng.

H1

Hình 1: Hình ảnh khối u mỡ trên siêu âm

-      Chụp cắt lớp vi tính ổ bụng có tiêm thuốc cản quang:

Vùng giữa bụng có khối tỷ trọng hỗn hợp kích thước lớn 23x26cm, gồm phần mỡ, tổ chức vôi hóa không đồng nhất, ranh giới rõ (hình ảnh nghĩ tới Teratoma).

H2

Hình 2: Hình ảnh khối u trong ổ bụng đè đẩy các tạng

 

Chẩn đoán trước mổ: Liposarcoma ổ bụng.

Bệnh nhân đã được hội chẩn, hội đồng chỉ định phẫu thuật lấy u tại Bệnh viện Bạch Mai ngày 7/2/2020.

Biên bản phẫu thuật:

-      Rạch da đường trắng giữa từ mũi ức tới xương mu.

* Thăm dò: Toàn bộ ổ bụng chứa một khối u rất lớn kích thước 40x30cm, nhắn chiếm gần hết ổ bụng, tương đối di dộng, mật độ không đồng nhất, đè đẩy các tạng xung quanh, chân xuất phát từ sau phúc mạc vị trí hậu cung mạc nối.

-      Gan hồng mềm mại, tĩnh mạch không giãn, tụy bị đẩy xuống dưới, mỏng áp sát vào u, lách đẩy sang thành bụng trái, ruột non đại tràng bị đẩy xuống tiểu khung.

* Chẩn đoán: U mỡ sau phúc mạc nghi ung thư.

* Tiến hành: Phẫu tích bóc theo vỏ u, giải phóng các tạng xung quanh như dạ dày, lách, đại tràng ngang ra gặp nhiều khó khăn do kích thước u quá lớn.

-      Bóc u khỏi thành sau ổ bụng.

-      Cầm máu diện cắt.

-      Khâu phục hồi phúc mạc thành sau và hậu cung mạc nối.

-      Lau rửa sạch ổ bụng, cầm máu diện phẫu tích.

-      Đặt 01 dẫn lưu ở hậu cung mạc nối.

-      Đóng bụng 02 lớp.

-      Khối u cân được 5,8kg gửi làm giải phẫu bệnh.

Kết quả mô bệnh học sau mổ: Sarcoma mỡ biệt hóa cao.

H3

Hình 3: Hình ảnh khối u trong quá trình phẫu thuật.

 

H4

Hình 4: Hình ảnh khối u khi được đưa ra khỏi ổ bụng.

 

H5

Hình 5: Khối u có trọng lượng 6kg (sau phẫu thuật).

 

PET/CTsau mổ: Hình ảnh phần mềm dưới da vùng thắt lưng phải tăng hấp thu FDG (18F-2-deoxy-D-glucose).
Hình ảnh phần mềm thành bụng vết mổ cũ tăng hấp thu FDG (18F-2-deoxy-D-glucose), giãn phế nang rải rác hai phổi.

H6.

Hình 6: Hình ảnh PET/CT sau mổ

 

Chẩn đoán sau mổ: Sarcoma mỡ ổ bụng T4N0M0, giai đoạn IIIB đã phẫu thuật, Giải phẫu bệnh: Sarcoma mỡ biệt hóa cao.

Sau mổ 3 tuần: Tình trạng bệnh nhân ổn định, bệnh nhân được chỉ định điều trị bổ trợ sau mổ và chúng tôi hy vọng bệnh nhân sẽ ổn định bệnh.

Vài nét về bệnh ung thư phần mềm

Sarcomas là một bệnh lý ung thư bắt đầu trong các mô như xương và mô mềm, đây là danh từ chỉ một nhóm lớn nhưng hiếm gặp của các loại ung thư. Mô mềm hỗ trợ, kết nối, bao quanh các phần của cơ thể. Các sarcoma mô mềm thường gặp hơn sarcoma xương.

-      Sarcoma mô mềm (SCMM) là ung thư của mô liên kết, bao gồm nhóm thứ nhất xuất phát từ các tế bào của mô liên kết có nguồn gốc trung mô trừ xương, tạng, võng nội mô và nhóm thứ hai xuất phát từ các tế bào của mô thần kinh ngoại vi. Có hơn 50 loại sarcoma mô mềm, chúng khác nhau về chủng loại và hình dáng tế bào. Các loại sarcoma mô mềm thường gặp như:

-      Sarcoma đa hình không biệt hóa (Undifferencetiated pleomophic sarcoma).

-      U mô đệm dạ dày ruột (GIST – Gastrointestinal Stromal Tumor).

-      Sarcoma mỡ (Liposarcoma).

-      Sarcoma cơ trơn (leiomyosarcoma).

-      Khối u thần kinh ngoại vi ác tính....

Về nguyên nhân, các thuốc trừ sâu diệt cỏ, đặc biệt chất Digoxin và một số chấn thương và phóng xạ có liên qua đến sự xuất hiện của SCMM nhưng chưa được chứng minh rõ ràng.

Sarcoma mỡ là loại sarcoma mô mềm phổ biến thứ 2 ở người lớn. Thường xảy ra ở độ tuổi (50-80 tuổi), gặp ở nam nhiều hơn nữ, gặp ở chi dưới nhiều hơn chi trên, cũng có thể gặp ở các vị trí khác như khoang sau phúc mạc với sarcoma mỡ trong bụng và có thể tạo thành các khối sarcoma mỡ khổng lồ.

Trong những năm gần đây đã có những tiến bộ mới trong chẩn đoán và hóa chất điều trị sarcoma mô mềm mang lại nhiều hứa hẹn và hy vọng sẽ cải thiện tốt hơn tiên lượng với nhóm bệnh nhân này.


ungthubachmai.vn

BSNT. Hoàng Công Tùng

PGS.TS. Phạm Cẩm Phương, GS.TS. Mai Trọng Khoa

Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu - Bệnh viện Bạch Mai.

 

          Ung thư phổi là loại ung thư phổ biến nhất và có tỷ lệ tử vong cao nhất trên toàn thế giới. Theo thống kê năm 2018 của Cơ quan nghiên cứu ung thư Quốc tế (International Agence on Cancer Research) ung thư phổi có tỷ lệ số ca mới mắc 2.088.849 chiếm 11,6% ở cả hai giới, có tỷ lệ tỷ vong là 1.761.007 chiếm 18,4%, cao nhất trong các loại ung thư hiện nay.

          Chẩn đoán và điều trị ung thư phổi hiện nay đã và đang đạt được những tiến bộ nhất định so với trước. Ngoài các phương pháp điều trị đa mô thức cổ điển: phẫu thuật, hóa trị, xạ trị. Ngày nay với sự phát triển của sinh học phân tử, việc nghiên cứu và tìm ra các thuốc mới: các thuốc điều trị nhắm trúng đích (các TKI - Tyrosine Kinase), các thuốc điều trị miễn dịch giúp cho bác sỹ và bệnh nhân có thêm nhiều sự lựa chọn và ngày càng được hưởng nhiều lợi ích.

          Dưới đây là một trường hợp bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ đã được điều trị ổn định

Hành chính

          Họ và tên: L.T.T. , nữ, 72 tuổi. Địa chỉ: Hà Cầu – Hà Đông – Thành phố Hà Nội

          Vào viện tháng 9 năm 2019 vì lí do: Ho khan, đau tức ngực.

Bệnh cảnh

          Tháng 9/2019 bệnh nhân ở nhà xuất hiện ho nhiều, ho khan, ho nhiều về đêm kèm theo đau tức ngực phải âm ỉ, không khó thở, không sốt, không gầy sút cân đi khám tại Bệnh việnở Hà Nội được chụp cắt lớp vi tính lồng ngực: hình ảnh khối u phổi phải kích thước 1,5x1,5cm, bệnh nhân nhập viện Bạch Mai đánh giá và điều trị.

Tiền sử:

+ Bản thân: Tăng huyết áp (đang dùng thuốc Amlor 5mg x 1 viên/ngày).

+ Gia đình: Chồng bị ung thư phổi.

Khám bệnh:

Bệnh nhân thể trạng trung bình.

Hạch ngoại vi không sờ thấy.

Phổi 2 bên rì rào phế nang rõ, không rales.

Bụng mềm, gan lách không sờ thấy.

Các xét nghiệm

Công thức máu: bình thường.

Sinh hóa máu: (chức năng gan thận, điện giải đồ) bình thường.

Chất chỉ điểm u trong giới hạn bình thường CEA: 1,26ng/ml, Cyfra 21-1: 3,95U/L.

Điện tim đồ: Nhịp xoang, tần số 69 lần/ phút, trục trung gian.

Siêu âm ổ bụng: Hình ảnh gan nhiễm mỡ.

Siêu âm vùng cổ: Hiện tại không phát hiện gì bất thường.

Chụp cắt lớp vi tính lồng ngực có tiêm thuốc cản quang:

 h1

Hình 1: Hình ảnh chụp cắt lớp vi tính lồng ngực: khối u thùy trên phổi phải

kích thước 1,5x1,5cm, bờ tua gai ngấm thuốc sau tiêm.

Hình ảnh chụp PET/CT:

h2

Hình 2: Hình ảnh chụp PET/CT: u thùy trên phổi phải

kích thước 1,3x1,4cm xâm lấn màng phổi, maxSUV=12,23. Hạch trung thất trên

kích thước 1,8cm, tăng hấp thu FDG maxSUV=4,2, hạch trên Carina tăng hấp thu FDG maxSUV=4,0. Tổn thương di căn phổi trái.

h3 

Hình 3: Hình ảnh chụp PET/CT: Hạch trung thất trên kích thước 1,8cm, tăng hấp thu FDG maxSUV=4,2, hạch trên Carina tăng hấp thu FDG maxSUV=4,0.

         

          Chụp cộng hưởng từ sọ não: Hình ảnh thoái hóa myelin vùng trên lều, hiện tại chưa phát hiện tổn thương thứ phát.

h4 

Hình 4: Hình ảnh chụp cộng hưởng từ sọ não.

IV. Chẩn đoán

          Bệnh nhân đã được sinh thiết khối u phổi, kết quả mô bệnh học: Ung thư biểu mô tuyến, có đột biến gene Epidemal grow factor receptor (EGFR) (+)/ exon 20.

          Chẩn đoán: Ung thư phổi không tế bào nhỏ T4N3M1, giai đoạn IV.

          Giải phẫu bệnh: Ung thư biểu mô tuyến, có đột biến gene EGFR (+)/ exon 20/ Tăng huyết áp.

V. Điều trị

          Bệnh nhân được điều trị bằng thuốc điều trị đích thế hệ 1: Tarceva 150mg x 1 viên/ngày.

          Điều trị tăng huyết áp: Amlor 5mg x 1 viên/ngày.

          Điều trị triệu chứng: giảm ho, kháng histamin, bổ gan.

VI. Diễn biến điều trị

          Các triệu chứng lâm sàng cải thiện nhiều

Lâm sàng

Trước điều trị

Sau điều trị

Khó thở

Khó thở khi gắng sức

Không khó thở

Ho

Ho khan nhiều

Không ho

Sốt

Không

Không

Đau ngực

Tức ngực phải khi ho

Không

Bảng 1: Thay đổi các triệu chứng lâm sàng trước và sau điều trị 4 tháng

          Các chất chỉ điểm u sau 4 tháng điều trị (trong giới hạn bình thường): CEA: 1,52; Cyfra 21-1: 2,13.

Sau điều trị 4 tháng: Tổn thương hạch trung thất biến mất.

 h5

Hình 5: Hình ảnh chụp cắt lớp vi tính lồng ngực


Kết luận: Sau 4 tháng điều trị bằng thuốc điều trị nhắm trúng đích (Tarceva), bệnh nhân đã cải thiện đáng kể các triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng, các tổn thương hạch đã biến mất, kích thước khối u giảm ít. Hiện tại bệnh nhân vẫn tiếp tục được sử dụng thuốc Tarceva điều trị hàng ngày và theo dõi định kỳ tại Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu, Bệnh viện Bạch Mai.


ungthubachmai.vn

 GS.TS. Mai Trọng Khoa,

TS. BS. Vũ Hữu Khiêm, BSNT. Trương Thu Hiền

Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu – Bệnh viện Bạch Mai

 

U lympho không Hodgkin (Non Hodgkin Lymphoma) là bệnh ác tính của tổ chức lympho. Dựa vào nguồn gốc phát sinh của tế bào u, bệnh được chia thành hai nhóm chính: u lympho dòng tế bào B (khoảng 88%), u lympho dòng tế bào T và tế bào NK (khoảng 12%). Theo Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ 2019, u lympho không Hodgkin là ung thư đứng hàng thứ 7 ở cả nam và nữ, chiếm 4-5% tổng số ca mới mắc, tỷ lệ tử vong 3-4%. Ở Việt Nam theo Globocan 2018, tỷ lệ này có thấp hơn, lần lượt là 3,1 và 1,8%.

Bệnh có sự đa dạng về biểu hiện lâm sàng, tế bào, mô bệnh học và chiến lược điều trị. Trong các dưới nhóm của u lympho không Hogkin theo WHO 2016, u lympho không Hogkin tế bào B lớn lan toả hay gặp nhất (30%). Việc xét nghiệm các dấu ấn miễn dịch trên tế bào u có vai trò quan trọng trong chẩn đoán, điều trị và tiên lượng bệnh. Có nhiều phương pháp điều trị u lympho không Hogkin như phẫu thuật, hoá trị, xạ trị, ghép tuỷ, điều trị đích… Bệnh thường đáp ứng tốt với điều trị, vì thế khoảng 50% trường bệnh có thể được chữa khỏi. Sự phát triển của các lĩnh vực sinh học, miễn dịch học cùng những ứng dụng trong y học đã và đang mở ra những hướng đi mới, hứa hẹn đem lại nhiều lợi ích cho bệnh nhân. Điển hình là sự kết hợp giữa hoá trị và điều trị đích mà cụ thể là vai trò rất rõ nét của Rituximab, đã mang lại sự cải thiện vượt trội về hiệu quả điều trị bệnh.

Sau đây là ca lâm sàng bệnh nhân u lympho ác tính không Hodgkin biểu hiện tại trung thất được điều trị thành công tại Trung tâm Y học hạt nhân và ung bướu – Bệnh viện Bạch Mai:

Bệnh nhân: P.N.T, nữ, 52 tuổi.

Lí do vào viện: Khó thở, phù mặt, cổ.

Bệnh sử: Khoảng tháng 10/2013, bệnh nhân thấy vùng mặt, cổ, vai phù kèm theo khó thở, các triệu chứng tăng dần. Bệnh nhân không sốt, không gầy sút cân, không ra mồ hôi trộm, không ngứa, chưa điều trị gì. Sau đó được chuyển đến Trung tâm Y học hạt nhân và ung bướu – Bệnh viện Bạch Mai để điều trị.

Tiền sử:

- Bản thân: Khoẻ mạnh.

- Gia đình: Không ai mắc bệnh ác tính.

Khám lúc vào viện:

+ Bệnh nhân tỉnh, tiếp xúc tốt, nhiệt độ 36,5 độ C.

+ Thể trạng trung bình, cao 156cm, nặng 52kg.

+ Da bình thường, niêm mạc hồng.

+ Phù áo khoác rõ, không có tuần hoàn bàng hệ vùng ngực.

+ Hạch ngoại vi không sờ thấy.

+ Tim nhịp đều 80 chu kỳ/phút, huyết áp 120/70mmHg.

+ Khám các cơ quan khác chưa phát hiện dấu hiệu bệnh lý.

Cận lâm sàng:

+ Sinh hoá máu: Chức năng gan, thận bình thường.

+ Huyết học: bình thường.

+ Vi sinh: HbsAg (-), HIV (-).

+ Đông máu: bình thường.

+ Các xét nghiệm thăm dò khác: điện tâm đồ, chụp XQ ngực thẳng, siêu âm ổ bụng, siêu âm hạch cổ, nội soi thực quản – dạ dày, nội soi đại trực tràng không phát hiện bất thường.

+ PET/CT: Hình ảnh khối u lớn ở trung thất trước bên phải, xâm lấn màng phổi tạng, xâm lấn tĩnh mạch chủ trên, kích thước 11x7cm, maxSUV 12,5.

 1

2

 

Bệnh nhân được sinh thiết u trung thất xuyên thành ngực dưới hướng dẫn của cắt lớp vi tính, kết quả giải phẫu bệnh: U lympho tế bào B lớn lan toả, CD20 (+).

Chẩn đoán xác định: U lympho không Hogdkin biểu hiện tại trung thất xâm lấn lan rộng, Tế bào B, CD 20 (+)

Điều trị:

Bệnh nhân được hội chẩn hội đồng chuyên môn đưa ra quyết định điều trị như sau:

+ Phẫu thuật: Đánh giá khối u lớn, xâm lấn tĩnh mạch chủ trên nguy cơ gây vỡ, chảy máu nguy hiểm đến tính mạng nếu điều trị hóa chất và xạ trị trước. Vì vậy, bệnh nhân được chỉ định phẫu thuật lấy u, cắt tĩnh mạch chủ trên và thay bằng tĩnh mạch nhân tạo.

+ Sau phẫu thuật, bệnh nhân được sử dụng hoá chất phác đồ R-CHOP 8 chu kì:

  • Rituximab (Mabthera) 375mg/m2 da, truyền tĩnh mạch ngày 1.
  • Cylophosphamide 750mg/ m2 da, truyền tĩnh mạch ngày 1.
  • Doxorubicine 50mg/m2 da, truyền tĩnh mạch ngày 1.
  • Vincristin 1,4mg/m2 da, truyền tĩnh mạch ngày 1.
  • Prednisolon 60mg/m2 da, uống ngày 1-5.

+ Sau hoá chất 8 chu kỳ, tiến hành xạ trị bằng máy gia tốc với tổng liều 44Gy, phân liều 2Gy/ngày vào vị trí tổn thương tại trung thất.

Đánh giá sau phẫu thuật, hoá chất 8 chu kì, xạ trị 44Gy (2014):

+ Lâm sàng: ổn định, hết khó thở, vùng mặt, cổ, vai không còn phù.

+ PET/CT: Khối u trung thất không còn, không có tổ chức bất thường tăng hấp thu FDG.

3 

Đánh giá kết quả sau điều trị 6 năm (2019):

+ Lâm sàng: Bệnh nhân ổn định, thể trạng tốt, không phù cổ mặt, không khó thở

+ PET/CT: Không có tổ chức bất thường tăng hấp thu FDG.

4 

Đánh giá kết quả điều trị: sau 6 năm điều trị phối hợp đa mô thức gồm phẫu thuật, hoá trị kết hợp điều trị đích, xạ trị: bệnh nhân có đáp ứng hoàn toàn. Khối u vùng trung thất biến mất hoàn toàn.

Đến nay, mặc dù hơn 6 năm sau điều trị, bệnh vẫn ổn định, không có bất thường trên lâm sàng. Bệnh nhân tiếp tục được theo dõi định kì. Bệnh nhân có cuộc sống, sinh hoạt, làm việc bình thường. Chất lượng cuộc sống tốt.

 ungthubachmai.vn 

 

Page 1 of 11

Tem dan Don vi Gen tri lieu 1

logo vinmec

Hỗ trợ  

Joomla Templates and Joomla Extensions by ZooTemplate.Com
Hotline: 1900575758 phím 2

Clip

Đối tác chiến lược

chung cư imperia garden

Quảng cáo

Banner

Hình ảnh tiêu biểu

Đối tác chiến lược

chung cư imperia garden

Thống kê

Members : 7649
Content : 1268
Web Links : 3
Content View Hits : 358421