Ca lâm sàng

GS.TS. Mai Trọng Khoa, ThS.BS. Thiều Thị Hằng

Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu - Bệnh viện Bạch Mai

U lympho ác tính không Hodgkin là bệnh ung thư tế bào bạch cầu dòng lympho, một trong 10 loại ung thư thường gặp. Theo GLOBOCAN 2012, trên thế giới có 385.741 trường hợp mới mắc (chiếm 2,7%) và 199.670 trường hợp tử vong (chiếm 2,4%). Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi là 5,2/100.000 dân đứng hàng thứ 10 trong các loại ung thư. Bệnh gặp ở nam nhiều hơn nữ. Tỷ lệ mắc bệnh cao ở các nhóm tuổi 35-40 và 50-55, tuổi trung bình 50-60 tuổi, ngày nay tỷ lệ gặp ở người cao tuổi có xu hướng gia tăng.

Bệnh thường biểu hiện tại hạch (nên còn có tên gọi là ung thư hạch) chiếm trên 60% hoặc biểu hiện u ở ngoài hạch và có thể ở bất cứ cơ quan, vị trí khác nhau trong cơ thể, hay gặp như ở da, đường tiêu hóa (dạ dày, đại trực tràng…), vòm mũi họng, lưỡi, thần kinh trung ương, hốc mắt…; về mô bệnh học bệnh gặp chủ yếu dòng bạch cầu lympho B (chiếm trên 85%) còn lại là dòng bạch cầu lympho T và tế bào NK.

Việc điều trị bệnh ngày nay đã có nhiều tác nhân chống ung thư mới như điều trị đích, điều trị miễn dịch, ghép tế bào gốc… do đó đã cải thiện được thời gian sống thêm đáng kể ngay cả trường hợp bệnh giai đoạn muộn hoặc ở những bệnh nhân cao tuổi, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh. Hoặc có thể kết hợp với xạ trị, phẫu thuật trong một số trường hợp.

Điều trị đích ở bệnh nhân u lympho không Hodgkin tế bào B, có dấu ấn CD20 dương tính bằng kháng thể đơn dòng rituximab kết hợp với phác đồ hóa chất kinh điển mang lại hiệu quả cao, kéo dài thời gian sống thêm đáng kể cho người bệnh.

Nghiên cứu lâm sàng ngẫu nhiên pha III GELAL NH-98.5theo dõi sau 10 năm trên 399 bệnh nhân từ 60-80 tuổi, toàn trạng tốt PS 0-2, bị ULKH tế bào B lớn lan tỏa, chia 2 nhóm. Nhóm A: điều trị hóa chất phác đồ CHOP-Rituximab chu kỳ 3 tuần x 8 chu kỳ. Nhóm B: điều trị phác đồ CHOP chu kỳ 3 tuần x 8 chu kỳ. Kết quả của nghiên cứu này cho thấy, có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về trung vị sống còn toàn bộ giữa 2 nhóm là 8,4 năm so với 3,5 năm (p<0,001), trung vị thời gian sống bệnh không tiến triển là 4,8 năm so với 1,2 năm, p<0,0001).

Nghiên cứu ngẫu nhiên đa trung tâm MInT theo dõi sau 6 năm trên 823 bệnh nhân ULKH tế bào B lớn lan tỏa chưa điều trị trước đó, 18-60 tuổi, nguy cơ thấp (IPI 0-1), giai đoạn II-IV, có u, hạch lớn, chia thành 2 nhóm, nhóm 1: điều trị 6 chu kỳ hóa chất tương tự CHOP kết hợp rituximab và xạ trị 30-40Gy (hạch lớn); nhóm 2: điều trị 6 chu kỳ hóa chất tương tự CHOP và xạ trị 30-40Gy (hạch lớn). Kết quả nghiên cứu thời điểm sau 6 năm cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kế về thời gian sống bệnh không tiến triển là 74,3% so với 55,8% (p<0,0001), tỷ lệ sống thêm toàn bộ sau 6 năm đạt 90,1% so với 80% (p<0,001), nghiên cứu này cũng cho thấy độc tính mức độ 3-4 về huyết học, tiêu hóa, nhiễm trùng và trên thần kinh trung ương ở 2 nhóm trên không có sự khác biệt.

Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu bệnh viện Bạch Mai đã điều trị thành công cho nhiều bệnh nhân u lympho ác tính không Hodgkin kể cả các trường hợp là bệnh nhân cao tuổi, nhờ có sự chẩn đoán chính xác thể mô bệnh học, giai đoạn bệnh, đặc điểm sinh học khối u, với các kỹ thuật tiên tiến như chụp PET/CT khảo sát toàn thân xác định giai đoạn bệnh- đánh giá đáp ứng điều trị, xét nghiệm sinh học phân tử - nhuộm hóa mô miễn dịch đặc hiệu phân loại thể mô bệnh học và áp dụng các phương pháp điều trị phối hợp hóa chất với thuốc điều trị đích (kháng thể đơn dòng), xạ trị để áp dụng điều trị cho từng bệnh nhân (điều trị theo từng cá thể) phù hợp với tình trạng bệnh, lứa tuổi và thể trạng.

            Sau đây là ca lâm sàng bệnh nhân u lympho ác tính không Hodgkin ở người cao tuổi đã được chẩn đoán và điều trị thành công:

* Bệnh nhân: Trần Công H, nam, 74 tuổi

Vào điều trị tại Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu, Bệnh viện Bạch mai 12/2014 với lý do nuốt vướng xuất hiện 1 tháng trước, kèm theo cảm giác khó chịu vùng miệng, ăn uống kém, gầy sút 1kg trong vòng 1 tháng, bệnh nhân không sốt, không đau. Bệnh nhân đã được nội soi tai mũi họng có hình ảnh khối u vị trí gốc lưỡi trái kích thước 2x3 cm, xét nghiệm tế bào học u cho kết quả nghi ngờ bệnh U lympho (u hạch ác tính) do đó bệnh nhân được nhập viện để chẩn đoán xác định bệnh và điều trị.

* Tiền sử bản thân: Bệnh nhân bị bệnh cao huyết áp 3 năm nay và đang được điều trị duy trì thuốc hạ áp amlor 5mg uống 1 viên, hàng ngày.

* Khám lúc vào viện:

- Thể trạng tốt: cao 170cm, nặng 65kg

- Tỉnh táo, không sốt.

- Sờ thấy hạch cảnh cao bên trái kích thước 2,5x3cm, chắc, di động, không đau.

- Tim nhịp đều 75 chu kỳ/phút, huyết áp 130/80mmHg.

- Khám các cơ quan khác không có gì đặc biệt.

* Các xét nghiệm cận lâm sàng.

- Huyết học: bình thường.

- Xét nghiệm hóa sinh máu: chức năng gan, thận bình thường.

- Chất chỉ điểm khối u (Tumor maker): LDH: 244 ng/ml (bình thường), β2 microglobulin: 2,2ng/ml (bình thường).

- Xét nghiệm vi sinh: HIV (-), HBsAg (-)

- Siêu âm tim: dày nhẹ thành thất trái, chức năng tim bình thường, chỉ số EF 72% (bình thường).

- Xét nghiệm mô bệnh họcvà nhuộm hóa mô miễn dịch: sinh thiết u gốc lưỡi cho kết quả xác định bệnh U lympho không Hodgkin tế bào B lớn lan tỏa, có dấu ấn CD20 dương tính.

* Hình ảnh PET/CT trước điều trị:1.1

1.2

HÌNH 1: Hình ảnh chụp PET/CT trước điều trị:

-       Khối U vị trí gốc lưỡi kích thước 1,3x1,6cm, tăng hấp thu FDG, maxSUV 8,1.

-       Hạch cảnh cao bên trái kích thước 4,2x1,8x2,4cm, maxSUV 14,7; hạch thượng đòn trái 0,7cm, maxSUV 3,3; hạch góc hàm trái 0,6 cm, maxSUV 4,9.

* Chẩn đoán xác định: U lympho ác tính không Hodgkin gốc lưỡi, tế bào B lớn lan tỏa, CD 20(+), giai đoạn IE, nhóm nguy cơ trung bình thấp.

* Điều trị: Theo kết luận, chỉ định của Hội đồng hội chẩn chuyên môn bệnh nhân được điều trị hóa chất kết hợp thuốc điều trị đích, kháng thể đơn dòng kháng CD 20. Rituximab, phác đồ CHOP-R , truyền tĩnh mạch 6 chu kỳ sau đó bổ sung thêm 2 chu kỳ Rituximab đơn chất, cụ thể:

- 6 chu kỳ CHOP-R

            + Cylophosphamide 750 mg/m2da, truyền tĩnh mạch ngày 1.

            + Doxorubicine 50 mg/m2da, truyền tĩnh mạch ngày 1.

            + Vincristin 1,4 mg/m2da, truyền tĩnh mạch ngày 1.

            + Prednisolon 60 mg/m2da, uống ngày 1-5.

            + Rituximagb(Mabthera) 375 mg/m2da, truyền tĩnh mạch ngày 1.

- 2 chu kỳ Rituximab

            Rituximagb(Mabthera) 375 mg/m2da, truyền tĩnh mạch ngày 1.

* Kết thúc điều trị 7/2015

-          Toàn trạng: ổn định.

-          Không nuốt vướng.

-          Tăng 3kg.

-          Nội soi tai mũi họng: không thấy u vùng gốc lưỡi.

-          Siêu âm hạch cổ: không thấy hạch cổ.

-          Chụp PET/CT: không thấy tổ chức tăng hấp thu FDG bất thường.

* Hình ảnh nội soi tai mũi họng sau điều trị: không thấy tổn thương u gốc lưỡi.

 2

HÌNH 2: Hình ảnh nội soi tai mũi họng sau điều trị: bình thường, không thấy u vị trí gốc lưỡi

* Hình ảnh PET/CT sau điều trị

3.1

3

HÌNH 3: Hình ảnh chụp PET/CT sau điều trị:

-          U và hạch tan biến

-          Không còn tổn thương tăng hấp thu FDG bất thường

-          Không thấy hình ảnh U gốc lưỡi và hạch cổ, hạch thượng đòn.

* Hình ảnh PET/CT so sánh trước và sau điều trị:

4

Trước điều trị: u gốc lưỡi và hạch cổ

tăng hấp thu FDG rất mạnh (mũi tên đỏ)

Sau điều trị: u gốc lưỡi  và hạch cổ

tan biến (đáp ứng hoàn toàn)

HÌNH 4: Hình ảnh so sánh trước và sau điều trị trên PET/CT

5.1

Trước điều trị


5.2

Sau điều trị

HÌNH 5: Hình ảnh so sánh trước và sau điều trị trên PET/CT

* Hiện tại: 5/2016 (sau 17 tháng)

- Toàn trạng bệnh nhân ổn định, ăn uống, sinh hoạt hàng ngày bình thường.

- Đạt lui bệnh hoàn toàn.

- Tái khám theo dõi định kỳ tại bệnh viện Bạch Mai 3-6 tháng/lần.

            Tóm lại U lympho không Hodgkin là bệnh lý ác tính hệ thống lympho có thể gặp ở mọi lứa tuổi, gặp ở tại hạch hoặc ngoài hạch. Các dấu hiệu sớm của bệnh là sốt kéo dài, sút cân, ra nhiều mồ hôi đêm, nổi hạch ngoại vi (cổ, nách, bẹn…). Việc điều trị bằng các tác nhân chống ung thư mới nhắm đích kết hợp phác đồ hóa chất kinh điển mang lại tỷ lệ lui bệnh cao, kéo dài thời gian sống thêm, nâng cao chất lượng cuộc sống kể cả ở nhóm bệnh nhân cao tuổi, đây là đối tượng có xu hướng mắc bệnh càng tăng và thường kết hợp các bệnh nội khoa khác như bệnh lý tim mạch, tiểu đường… thuốc được dung nạp tốt, ít tác dụng phụ, tác dụng phụ thường ở mức độ nhẹ, thường gặp như mệt mỏi, buồn nôn, nôn… do vậy có thể dùng cho bệnh nhân có thể trạng yếu. Bệnh có thể điều trị cho kết quả tốt nếu được phát hiện sớm khi chưa ở giai đoạn lan tràn, bởi vậy chúng ta cần đến gặp bác sỹ chuyên khoa sớm để được chẩn đoán điều trị kịp thời nếu có các biểu hiện nói trên.

http://ungthubachmai.com.vn

PGS.TS. Trần Đình Hà, BSNT. Nguyễn Thị Hoa Mai

 

MỘT SỐ NÉT TỔNG QUAN VỀ U NGUYÊN BÀO THẦN KINH ĐỆM

U não là nguyên nhân tử vong đứng thứ 3 trong các nguyên nhân ung thư gây tử vong ở lứa tuổi trung niên và là nguyên nhân tử vong thứ 2 ở trẻ em. Khối u não ác tính nguyên phát (không tính tới ung thư di căn não ) chiếm khoảng 2% ung thư các cơ quan khác nhưng tiên lượng thường xấu, tỷ lệ tử vong cao. U nguyên bào thần kinh đệm ác tính (glioblastoma) là một loại u não nguyên phát của hệ thần kinh trung ương, chiếm khoảng 12-15% các loại u nội sọ và 60-75% các loại u sao bào. Glioblastoma được Tổ chức y tế thế giới xếp loại ác tính nhất (độ IV). Tại Mỹ, tần xuất khoảng 2,96 ca mới mắc/100.000 dân/năm. Glioblastoma là những u không đồng nhất xuất phát từ tế bào thần kinh đệm, phát triển chủ yếu từ dòng sao bào đệm (Astrocytoma), tế bào thần kinh đệm ít nhánh (Oligodendroglioma) và tế bào ống nội tủy (Ependynoma).

Việc điều trị bệnh là sự phối hợp nhiều phương pháp (Đa mô thức) gồm phẫu thuật, xạ trị, hóa trị. Hiện nay: phẫu thuật, xạ trị và hóa trị vẫn là những phương pháp cơ bản. Trong đó phẫu thuật lấy u là phương pháp quan trọng nhất, với mục đích: giải phóng chèn ép, khẳng định chẩn đoán giải phẫu bệnh, loại bỏ tối đa khối u. Xạ trị và hóa trị là hai phương pháp điều trị phối hợp, nhằm tiêu diệt những tế bào u còn lại và hạn chế sự tái phát của u. Điều trị xạ trị gia tốc kết hợp uống hóa chất Temolozomide sau phẫu thuật đã cải thiện thời gian sống còn toàn bộ của bệnh nhân so với xạ trị đơn thuần sau phẫu thuật từ 12,1 tháng lên 14,6 tháng. Như vậy, điều trị kết hợp hóa - xạ trị sau mổ là điều trị chuẩn trong u nguyên bào thần kinh đệm.


CASE LÂM SÀNG

* Bệnh cảnh: Bệnh nhân Đặng Văn L., Nam, 54 tuổi. Địa chỉ: Yên Lạc, Vĩnh Phúc. Nhập viện vào Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu-Bệnh viện Bạch Mai ngày 21 tháng5 năm 2015 vì lý do đau đầu kèm yếu nửa người phải.

* Bệnh sử: 1 tháng trước vào viện, bệnh nhân đau đầu, nôn nhiều kèm yếu ½ người bên phải tăng dần. Bệnh nhân đi khám tại Bệnh viện Bạch Mai, được chẩn đoán u não vùng đỉnh trái, đã được tiến hành phẫu thuật lấy u tại khoa Ngoại - Bệnh viện Bạch Mai. Giải phẫu bệnh sau mổ là: Glioblastoma grade IV. Sau phẫu thuật, bệnh nhân chuyển sang Trung tâmY học hạt nhân và Ung bướu để điều trị tiếp.

  • Tiền sử:

Bản thân: Không mắc các bệnh nội ngoại khoa khác.

Gia đình: Không có ai mắc bệnh liên quan.

  • Khám lúc vào viện:

Bệnh nhân đau đầu nhiều, buồn nôn

Thể trạng trung bình, chiều cao 164cm. cân nặng 59kg.

Nhịp tim: 70 chu kì/ phút, Huyết áp: 110/70mmHg.

Da niêm mạc hồng.

Hạch ngoại vi không sờ thấy.

Phổi 2 bên rì rào phế nang rõ, không rales.

Bụng mềm, gan lách không sờ thấy.

Bệnh nhân tỉnh, hội chứng tăng áp lực nội sọ (+), liệt ½ người phải, cơ lực 4/5, không rối loạn cơ tròn.

  • Xét nghiệm lúc vào viện:

- Xét nghiệm công thức máu (trong giới hạn bình thường).

- Xét nghiệm sinh hóa máu: Chức năng gan, thận trong giới hạn bình thường.

- Đông máu cơ bản: Bình thường.

- Xét nghiệm vi sinh: Hbs Ag (-), HIV (-).

- Xét nghiệm nước tiểu: bình thường.

  • Hình ảnh phim chụp cộng hưởng từ sọ não trước mổ cho thấy khối u não vị trí thùy đỉnh - chẩm bên trái, kích thước 45 x 56mm, ngấm thuốc mạnh, phù não rộng xung quanh.

 Hinh 1

Hình 1: Hình ảnh u não thùy đỉnh - chẩm trái (vòng tròn đỏ)

  • Sau phẫu thuật lấy u não, bệnh nhân được chụp cộng hưởng từ sọ não đánh giá lại sau mổ, kết quả cho thấy vùng khuyết não vị trí đỉnh chẩm trái, còn tổ chức u ngấm thuốc và vùng phù não rộng xung quanh.

Hinh 2 

Hình 2: Hình ảnh còn tổ chức u sau mổ và vùng phù não xung quanh.

( vòng tròn đỏ)

  • Sau mổ, bệnh nhân liệt nửa người bên phải do vậy chúng tôi đã tiến hành điều trị nội khoa chống phù não. Sau khi tình trạng bệnh nhân ổn định, đỡ đau đầu và buồn nôn, tiến hành phương pháp điều trị hóa - xạ trị đồng thời cho bệnh nhân với phác đồ điều trị:

Xạ trị gia tốc vào vị trí khối u liều 60Gy, phân liều 2Gy/ngày. Kết hợp uống hóa chất Temozolomide liều 75mg/m2 da, uống hàng ngày trong quá trình xạ trị.

Sau khi kết thúc xạ trị, bệnh nhân tiếp tục uống Temozolomide liều 150- 200mg/m2 da, uống ngày 1-5, chu kì 28 ngày x 6 chu kỳ.

  • Sau 7 tháng điều trị liên tục, tình trạng bệnh nhân cải thiện tốt, bệnh nhân không còn đau đầu, không liệt, sinh hoạt bình thường.
  • Chụp phim cộng hưởng từ sọ não đánh giá sau quá trình điều trị cho thấy khối u thu nhỏ kích thước: 1x2 cm, còn phù não nhẹ xung quanh.

Hinh 3 

Hình 3: khối u kích thước nhỏ còn lại sau điều trị (vòng tròn đỏ)

  • Tóm lại:Bệnh nhân nam,54 tuổi. Chẩn đoán lúc vào viện: U não thùy đỉnh- chẩm trái đã phẫu thuật. Giải phẫu bệnh sau mổ: Glioblastoma grade IV. Đã được xạ trị và uống hóa chất, bệnh đáp ứng một phần.
  • Hướng xử trí tiếp theo: Vì bệnh nhân đã được phẫu thuật lấy u não, và vị trí khối u nằm gần vùng vỏ não vận động, kích thước khối u nhỏ do vậy chúng tôi dự định tiếp tục xạ phẫu bằng dao Gamma quay vào vị trí khối u với mục đích điều trị triệt căn cho bệnh nhân.

http://ungthubachmai.com.vn

GS.TS. Mai Trọng Khoa, TS.BS. Phạm Cẩm Phương, BS. Trần Thị Thanh Hoa - Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu - Bệnh viện Bạch Mai

 Trong thực tế lâm sàng, chúng ta thường thấy hạch xuất hiện ở nhiều vị trí khác nhau như cổ, nách, bẹn, trung thất, ổ bụng... Bệnh thường được chẩn đoán với nhiều bệnh lý khác nhau: lao hạch, bệnh ung thư hệ tạo máu, ung thư di căn hạch, bệnh sarcoidose…

Để chẩn đoán bệnh, nhất là các trường hợp khó, phức tạp cần phải có sự phối hợp của nhiều chuyên khoa.

PET/CT là phương pháp chụp cắt lớp bằng bức xạ positron. Nguyên lý ghi hình của PET là dược chất phóng xạ đã lựa chọn được tập trung vào tổ chức tổn thương cao hơn so với mô lành xung quanh. Dược chất phóng xạ được lựa chọn dựa trên cơ sở những khác biệt về sinh lý học hoặc chuyển hóa giữa cơ quan bệnh lý với tổ chức bình thường. Một số dược chất phóng xạ hay được sử dụng: gắn Glucose với 18F (18F-FDG) hoặc 11C (11C-Glucose), 11C-thymidine, 11C-methionine, 11C-tyrosine,....

Chụp cắt lớp vi tính hoặc cộng hưởng từ giúp cung cấp hình ảnh giải phẫu rõ nét; PET/CT vừa cho chúng ta hình ảnh giải phẫu vừa cho hình ảnh chức năng chuyển hóa nhằm phát hiện các tổn thương.

PET/CT được ứng dụng chủ yếu trong thần kinh, tim mạch và đặc biệt là ung thư. Nhiều nghiên cứu cho thấy PET/CT là một phương pháp hữu ích để phân biệt tổn thương lành tính hay ác tính. Giá trị hấp thụ chuẩn (SUV) là phương pháp bán định lượng độ tập trung FDG. Giá trị ngưỡng của SUV được sử dụng để phân biệt các tổn thương lành tính và ác tính là 2,5. Tuy nhiên, FDG còn được hấp thụ bởi các bạch cầu và đại thực bào tại vị trí viêm trong nhiễm trùng và viêm đang hoạt động.

Bệnh lao là một tình trạng viêm u hạt mạn tính gây ra bởi Mycobacterium tuberculosis, thuộc nhóm vi khuẩn kháng acid và cồn, ái khí. Những tổn thương do lao khi chụp PET/CT với 18F-FDG thường có giá trị SUV cao, do đó rất khó để phân biệt được với tổn thương ác tính nếu chỉ dựa vào PET/CT. Tuy nhiên PET/CT giúp đánh giá được các vị trí tổn thương do lao đặc biệt là lao ngoài phổi, giúp đánh giá hiệu quả điều trị nhất là các trường hợp lao kháng thuốc. Tại một số nước trên thế giới, PET/CT đã được áp dụng trong đánh giá các tổn thương do lao trước điều trị, đánh giá hiệu quả điều trị và theo dõi bệnh lao tái phát, tiến triển. Tại Việt Nam, thường các bệnh nhân lao được chụp PET/CT tình cờ trước điều trị khi được chẩn đoán nghi ngờ ung thư, chứ PET/CT chưa được bảo hiểm hỗ trợ chi trả cho bệnh nhân lao trong các chỉ định trên giống như một số nước trên thế giới.

Dưới đây chúng tôi xin trình bày một trường hợp lâm sàng bệnh nhân có tổn thương hạch nhiều vị trí nhưng không phải tổn thương ác tính tại Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu – Bệnh viện Bạch Mai:

Bệnh cảnh: Bệnh nhân Nguyễn Thị Ng., nữ, 54 tuổi

Địa chỉ: Tam Quan – Tam Đảo – Vĩnh Phúc vào viện ngày 8/8/2016 vì lí do đau bụng vùng thượng vị.

Bệnh sử: Cách vào viện 2 tháng bệnh nhân xuất hiện đau bụng thượng vị, buồn nôn, nôn, ăn uống kém, gầy sút cân, không sốt. Bệnh nhân đi khám ở bệnh viện 108 được chụp cắt lớp vi tính lồng ngực-ổ bụng và được chụp PET/CT phát hiện tổn thương hạch tại nhiều vị trí: hạch trung thất, hạch ổ bụng, hạch rốn gan, tổn thương tại phổi nghĩ nhiều đến bệnh ung thư. Bệnh nhân được nhập viện Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu, Bệnh viện Bạch Mai để chẩn đoán xác định bệnh.

Tiền sử:

Bản thân: Mổ thay van hai lá và van động mạch chủ cơ học cách đây 2 năm, đang dùng sintrom 4mg, 3/8 viên/ngày.

Gia đình: Không có gì đặc biệt

Khám bệnh nhân lúc vào viện:

Bệnh nhân tỉnh, tiếp xúc tốt, nhiệt độ: 36,8 độ

Thể trạng trung bình, chiều cao: 155cm, cân nặng: 50kg.

Da niêm mạc hồng

Hạch ngoại vi không sờ thấy

Huyết áp: 120/80mmHg, Mạch: 80 chu kỳ/phút

Nhịp tim không đều, T1, T2 rõ.

Phổi rì rào phế nang rõ, không rales.

Bụng mềm, không chướng, gan lách không sờ thấy.

Các cơ quan bộ phận khác chưa có phát hiện gì đặc biệt.

Cận lâm sàng:

Công thức máu: Bạch cầu: 4 G/L, bạch cầu trung tính: 45,9%, bạch cầu mono: 14,5% (tăng), bạch cầu lympho: 34,7%; tiểu cầu: 164 G/L; hồng cầu: 5,11T/L.

Ngày 08/08/2016 xét nghiệm đông máu cơ bản: PT: 43%, INR: 1,9 (bệnh nhân đang dùng Sintrom).    

Sinh hóa máu: Ure: 4,4mmol/l; creatinin: 97umol/l; AST: 40U/L; ALT: 25U/L; LDH: 538U/L.

     Vi sinh: HIV âm tính, HbsAg âm tính

Các chất chỉ điểm u trong máu: AFP: 2,37ng/ml; CEA: 0,88ng/ml;

CA 19-9: 9,68U/ml; CA 125: 18,86U/ml; CA 72-4: 0,73U/ml;

         Cyfra 21-1: 4,01ng/ml (tất cả đều trong giới hạn bình thường).

X-quang tim phổi: bóng tim to, hình van tim nhân tạo, chỉ thép vùng xương ức, theo dõi nốt mờ nhỏ đáy phổi phải.

Siêu âm tim: Van hai lá và van động mạch chủ nhân tạo cơ học nằm đúng vị trí, hoạt động bình thường. Thành thất trái dày, buồng thất trái không giãn, chức năng tâm thu thất trái giảm (EF = 46%). Tăng áp lực động mạch phổi nhẹ.

Siêu âm vùng cổ: thượng đòn phải có vài hạch kích thước lớn nhất 6x4mm, thượng đòn trái có hạch kích thước lớn nhất 10x6mm, với đặc điểm mất cấu trúc rốn hạch.

Nội soi dạ dày: viêm dạ dày

Hình 1

Hình 1: Hình ảnh nội soi dạ dày

Nội soi đại tràng: trĩ nội độ I.

Hình 2

Hình 2: Hình ảnh nội soi đại tràng

Chụp cắt lớp vi tính lồng ngực có cản quang:

 

Hình 3

Hình 3. Hình ảnh chụp cắt lớp vi tính lồng ngực: các nốt mờ thùy dưới phổi phải, nốt lớn nhất 10mm

Hình 4

                 Hình 4. Hình ảnh chụp cắt lớp vi tính lồng ngực: Nhiều hạch trung thất

Chụp cắt lớp vi tính ổ bụng:

   Hình 5   

Hình 5. Hình ảnh chụp cắt lớp vi tính ổ bụng: Nhiều hạch to vùng rốn gan, đầu tụy và dọc động mạch chủ.

Hình ảnh PET/CT:

Hình 6 sua

Hình 6: Hình ảnh chụp PET/CT: tổn thương hạch nhiều vị trí, tăng hấp thu 18F –FDG.

Với các tổn thương như trên chúng tôi đã tiến hành hội chẩn và đưa ra chẩn đoán sơ bộ như sau:

  1. 1.Ung thư phổi di căn hạch trung thất, ổ bụng.
  2. 2.U lympho ác tính không Hodgkin.
  3. 3.Bệnh Hodgkin.
  4. 4.Lao hạch, lao phổi.

Để chẩn đoán xác định bệnh cần phải sinh thiết tổn thương. Tuy nhiên, bệnh nhân đang dùng thuốc chống đông để điều trị bệnh lý tim mạch, nếu sinh thiết nguy cơ tai biến chảy máu tại vị trí sinh thiết, ảnh hưởng đến tính mạng, do đó bệnh nhân đã được hội chẩn chuyên khoa tim mạch và cần phải đổi thuốc: dừng sintrom trước sinh thiết 5-7 ngày tùy kết quả đông máu, thay thế bằng lovenox 0,4ml x 2 bơm/ngày (tiêm dưới da), mũi tiêm cuối cùng dừng trước khi sinh thiết 12h, sau sinh thiết xong ổn định hết chảy máu dùng lại sintrom liều như cũ.

Đến 15/8/2016 bệnh nhân được làm lại xét nghiệm đông máu cơ bản: PT: 109%, INR:0,95.

Ngày 16/8/2016, bệnh nhân được nội soi phế quản và xét sinh thiết hạch xuyên vách.

Nội soi phế quản: Bẹp phế quản phân thùy 7,8,9,10 phải do đè ép từ ngoài vào

Hình 7

Hình 7: Hình ảnh nội soi phế quản

 

Xét nghiệm dịch rửa phế quản: AFB: âm tính, nuôi cấy vi khuẩn: âm tính, PCR-BK: âm tính, nuôi cấy tìm nấm: Âm tính.

Tế bào học: tổn thương viêm mạn tính.

Do đó ngày 18/8/2016, bệnh nhân được làm sinh thiết hạch ổ bụng dưới hướng dẫn của cắt lớp vi tính. Trong và sau thủ thuật bệnh nhân ổn định.

Mô bệnh học: Tổn thương viêm lao (Trên các mảnh sinh thiết là tổ chức xơ có các ổ viêm với tế bào bán liên, tế bào khổng lồ và ít chất hoại tử. Không thấy mô u).

Chẩn đoán xác định: Lao hạch, lao phổi

Bệnh nhân được chuyển đến bệnh viện 74 Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc để điều trị tiếp theo hướng lao.

Chúng tôi hẹn bệnh nhân 12 tháng sau chụp lại PET/CT nhằm đánh giá tổn thương lao sau điều trị, tình trạng đáp ứng…

Đây là một trong những trường hợp tổn thương nhiều vị trí trên hình ảnh PET/CT nhưng không phải là ung thư mà là bệnh lao, từ đó thầy thuốc sẽ có hướng điều trị đúng điều trị khỏi cho người bệnh.      

   http://ungthubachmai.com.vn/

GS.TS. Mai Trọng Khoa, TS.BS. Phạm Cẩm Phương, BS Lê Viết Nam

 

Ung thư phổi là một trong những bệnh ung thư phổ biến về tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong. Theo Globocan 2012 ung thư phổi trên thế giới có khoảng 1,825 triệu ca chiếm 12,9% tổng số ca mới mắc, có 1,59 triệu ca tử vong chiếm 19,4%. Tại Việt Nam, ung thư phổi đứng hàng đầu ở nam, đứng thứ 3 ở nữ với gần 21.865 ca mới mắc chiếm tỷ lệ 17,5%, số ca tử vong là 19.559 chiếm tỷ lệ 20,6%. Ung thư phổi chia làm 2 nhóm: ung thư phổi tế bào nhỏ và ung thư phổi không tế bào nhỏ, trong đó 80-85% là ung thư phổi không tế bào nhỏ. Đa số bệnh nhân được chẩn đoán ung thư phổi ở giai đoạn tiến triển, vì vậy tiên lượng ở các bệnh nhân ung thư phổi còn xấu.

Đối với giai đoạn sớm (giai đoạn I,II) điều trị triệt căn bằng phẫu thuật hoặc hóa – xạ trị kết hợp. Với giai đoạn tiến xa, điều trị chủ yếu dùng các phương pháp điều trị toàn thân như hóa chất, điều trị đích. Các phác đồ hóa chất thường dùng là phác đồ phối hợp platinum (Cisplatin, Carboplatin) với nhóm Taxane (Paclitaxel, Docetaxel), Gemcitabine, Etoposid, Vinorelbine, Pemetrexed…. Hiện nay cùng với sự phát hiện bất thường ở mức độ phân tử và các thuốc điều trị đích đã mang đến những tín hiệu tích cực trong điều trị. Điều trị đích là phương pháp dùng thuốc để ngăn chặn sự phát triển của tế bào ung thư bằng cách tác động vào các phân tử đặc hiệu cần thiết cho quá trình sinh ung thư và phát triển khối u. Phương pháp này bao gồm hai nhóm thuốc: kháng thể đơn dòng và các thuốc thuộc loại phân tử nhỏ. Nhóm thuốc phân tử nhỏ (ức chế tyrosine-kinase: Gefitinib, Erlotinib…) là một trong những lựa chọn điều trị bước 1 với bệnh nhân ung thư phổi biểu mô tuyến giai đoạn muộn có đột biến EGFR (Epidermal Growth Factor Receptor: thụ thể yếu tố phát triển biểu mô).

            Sau đây là một trường hợp lâm sàng ung thư phổi giai đoạn di căn có đột biến EGFR được điều trị tại trung tâm Y học hạt nhân và ung bướu – Bệnh viện Bạch Mai

-          Bệnh cảnh: Bệnh nhân Nguyễn Thị Hiệp H., nữ, 67 tuổi, vào viện ngày 23/10/015 vì đau tức ngực trái

-          Bệnh sử: Bệnh diễn biến trước ngày vào viện một tháng, bệnh nhân xuất hiện đau tức ngực trái, ho khạc đờm trắng. Kèm theo bệnh nhân khó thở khi gắng sức, ăn uống kém, gầy sút 2 kg/tháng. Bệnh nhân đi khám được chụp phim cắt lớp vi tính lồng ngực phát hiện hình ảnh u thùy dưới phổi trái, tràn dịch màng phổi trái. Sau đó bệnh nhân được nội soi phế quản và sinh thiết tổn thương và có kết quả mô bệnh học là: Ung thư biểu mô tuyến. Bệnh nhân được nhập viện Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu điều trị tiếp.

-          Tiền sử:

Bản thân: Khỏe mạnh

Gia đình: Không ai mắc bệnh liên quan

-          Khám bệnh nhân lúc vào viện:

Bệnh nhân tỉnh

Thể trạng trung bình: cao148cm, nặng 47 kg

Da niêm mạc hồng

Hạch ngoại vi: không sờ thấy

Tim: 80 chu kỳ/phút, tiếng tim T1,T2 rõ, không có tiếng bất thường

Phổi: Rì rào phế nang rõ, không có ran. Hội chứng 3 giảm đáy phổi trái

Cơ quan khác: Chưa phát hiện bất thường.

-          Xét nghiệm máu:

Công thức máu: Hồng cầu: 3,99T/l; Hemoglobin: 124g/l; Tiểu cầu: 334G/l; Bạch cầu: 7,5G/l

Sinh hóa máu: Chức năng gan thận, điện giải đồ: bình thường

Chỉ điểm u: CEA: 95,4ng/ml

Virus: HbsAg âm tính, HIV: âm tính

-          Chụp cắt lớp vi tính ngực cho thấy: Khối u thùy trên phổi trái kích thước 28x30mm, nằm sát động mạch chủ ngực, tràn dịch màng phổi trái

Hình 1

Hình 1: Hình ảnh chụp cắt lớp vi tính lồng ngực: Khối u thùy trên phổi trái kích thước 28x30mm, nằm sát động mạch chủ ngực (vòng tròn đỏ, mũi tên trắng), tràn dịch màng phổi trái (mũi tên vàng)

-          Chụp cắt lớp vi tính ổ bụng: Tổn thương gan hạ phân thùy VI kích thước 1cm và tổn thương hạ phân thùy IV kích thước 3cm, ngấm thuốc dạng viền, dạng tổn thương thứ phát.

Hình 2

Hình 2: Hình ảnh chụp cắt lớp vi tính ổ bụng: Tổn thương gan hạ phân thùy VI kích thước 1cm và tổn thương hạ phân thùy IV

-          Chụp cộng hưởng từ sọ não: Hiện tại không thấy bất thường

Hình 3

Hình 3: Hình ảnh chụp cộng hưởng từ sọ não

-          Xạ hình xương toàn thân: Tổn thương thân đốt sống vị trí C4 và D6 dạng tổn thương thứ phát

-          Kết quả mô bệnh học sau sinh thiết: Ung thư biểu mô tuyến, xét nghiệm có đột biến gen EGFR trên exon 21

-          Chẩn đoán xác định: Ung thư phổi trái di căn xương, gan T4N1M1, giai đoạn IV

-          Điều trị:

Thuốc chống hủy xương: zometa 4mg pha trong 250ml + Natriclorua 0,9% truyền tĩnh mạch mỗi 28 ngày

Iressa 250mg uống hàng ngày

-          Đánh giá sau 2 tháng điều trị:

Lâm sàng: Bệnh nhân đỡ đau ngực, không khó thở

Chỉ điểm u: CEA: 82,4ng/ml

Chụp PET/CT đánh giá:

- Thùy trên phổi trái sát động mạch chủ ngực có khối kích thước 25x13mm, không tăng hấp thu FDG

- Dày dính màng phổi trái

- Không thấy tổn thương tăng hấp thu FDG bất thường khác

Hình 4

Hình 4: Hình ảnh chụp PET/CT sau 2 tháng điều trị

-          Đánh giá sau 2 tháng điều trị, bệnh đáp ứng một phần. Bệnh nhân tiếp tục được điều trị Iressa 250mg uống hàng ngày.

-          Đánh giá sau điều trị 9 tháng

- Lâm sàng: Bệnh nhân ổn định, không đau ngực, không ho.

- Chỉ điểm u: CEA: 62,4ng/ml.

- Xạ hình xương sau 9 tháng điều trị: Viêm thoái hóa đa khớp, không thấy tổn thương thứ phát.

Hình 5

Hình 5: Hình ảnh xạ hình xương sau điều trị 9 tháng

- Chụp cắt lớp vi tính ngực đánh giá sau 9 tháng điều trị: U thùy dưới phổi trái kích thước 11x16mm, không ngấm thuốc, không có dịch màng phổi.

Hình 6

Hình 6: Hình ảnh chụp cắt lớp vi tính ngực trước và sau điều trị 9 tháng

- Chụp cắt lớp vi tính ổ bụng: Không thấy tổn thương gan

Hình 7

Hình 7: Hình ảnh chụp cắt lớp vi tính ổ bụng trước và sau điều trị 9 tháng


Hiện tại, bệnh nhân đang được điều trị duy trì tiếp với Iressa, hy vọng bệnh nhân sẽ đạt được ổn định bệnh lâu dài.

 

GS.TS. Mai Trọng Khoa, PGS.TS. Trần Đình Hà, Ths.Bs. Nguyễn Xuân Thanh -  Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu – Bệnh viện Bạch Mai

 GS.TS. Mai Trọng Khoa, ThS. Nguyễn Thanh Hùng

 Trung tâm Y học hạt nhân & Ung bướu – Bệnh viện Bạch Mai

GS.TS. Mai Trọng Khoa, Ths. Bs. Ngô Trường Sơn

Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu - Bệnh viện Bạch Mai

GS.TS. Mai Trọng Khoa, ThS. BS. Vương Ngọc Dương

Trung tâm Y học hạt nhân & Ung bướu, bệnh viện Bạch Mai

GS. TS. Mai Trọng Khoa, TS. Phạm Văn Thái, BSNT. Nguyễn Đức Luân

GS.TS Mai Trọng Khoa, TS. Phạm Cẩm Phương, BSNT. Lê Viết Nam

GS.TS. Mai Trọng Khoa, TS. Phạm Cẩm Phương, BSNT. Lê Viết Nam

Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu, BV Bạch Mai

GS. TS. Mai Trọng Khoa, Bs. Nguyễn Xuân Thanh, BS Trần Hải Bình

Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu – Bệnh viện Bạch Mai

GS.TS. Mai Trọng Khoa, ThS.BS. Vũ Hữu Khiêm, BSNT. Võ Huyền Trang

Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu - Bệnh viện Bạch Mai

 1. Ca lâm sàng minh họa

* BN Trần Ngọc L, 58 tuổi. Vào viện vì: ho, đau tức ngực phải, khó thở. Chụp CT ngực phát hiện u phổi trái, tiến hành sinh thiết xuyên thành dưới hướng dẫn của CT. Mô bệnh học: Ung thư biểu mô tuyến, không có đột biết gen EGFR. Chụp PET/CT có hình ảnh là ung thư phổi di căn hạch trung thất, di căn xương chậu. Bệnh nhân được chẩn đoán ung thư phổi di căn hạch, di căn xương T2N2M1, giai đoạn IV.

* Các xét nghiệm cận lâm sàng:

- Huyết học: bình thường

- Hóa sinh: bình thường

- Chất chỉ điểm khối u (Tumor maker): CEA: 97,5ng/ml (tăng cao), CA19-9: 69,8U/ml (tăng cao)

- Xét nghiệm vi sinh: HIV (-), HBsAg (-)

- MRI sọ não: không thấy tổn thương.

* Hình ảnh PET/CT trước điều trị:

3235 1

 

- Thùy trên phổi trái có khối kích thước 5,2x5,1cm, SUV max 7,9

- Hạch cạnh động mạch chủ SUV max 4,2 kích thước 2x2cm

3235 2

 - Tổn thương xương cánh chậu phải, KT 3x2cm, max SUV = 6,8

- Tổn thương S1, KT 3x3cm, max SUV = 5,4

 

* Hội chẩn hội đồng chuyên môn thống nhất điều trị hóa chất phác đồ Carboplatin– Pemetrexed (Alimta) 6 chu kỳ, đánh giá lại sau 3 chu kỳ.

+ Carboplatin 300mg/m2 da, truyền tĩnh mạch ngày 1.

+ Pemetrexed 500mg/m2 da, truyền tĩnh mạch ngày 1.


* Sau 3 chu kỳ hóa chất, bệnh nhân đỡ khó thở, không đau tức ngực, đỡ đau xương, thể trạng tốt lên, đi lại vận động được.


* Hình ảnh PET/CT sau 3 chu kỳ Carboplatin - Pemetrexed


3235 3

Kích thước u nhỏ lại còn 4,7x4,5x4,2cm, max SUV = 6,02 và hạch cạnh ĐMC 1,6x1,4cm, max SUV = 3,8.

3235 4

Hạch cạnh ĐMC 1, 6x1,4 cm, max SUV = 3,8; hạch trung thất không thấy

 

* Sau 6 chu kỳ hóa chất, Pemetrexed - Carboplatin

- Lâm sàng: BN thể trạng tốt, tăng 4kg, sinh hoạt làm việc bình thường.

- Các tác dụng phụ ít: nôn, thiếu máu nhẹ, không hạ BC

- Cận lâm sàng:

Các chỉ điểm u về giới hạn bình thường

CEA: 4,19ng/ml,  

Cyfra 21-1: 2,45ng/ml

CA 19.9 = 24, 2ng/ml

* Hình ảnh PET/CT sau 6 chu kỳ

3235 5


3235 6

 

Khối dạng xơ thùy trên phổi trái 4,4x3,5cm, max SUV = 2,3

Không thấy hạch trung thất

 

* Sau 6 chu kỳ hóa chất, bệnh nhân được điều trị duy trì liên tục bằng Pemetrexed. Trên lâm sàng bệnh ổn định, không khó thở, tăng cân, thể trạng tốt lên. Tác dụng phụ ở mức độ nhẹ: mệt mỏi, buồn nôn, không hạ bạch cầu.

 

* Hình ảnh PET/CT trước và sau điều trị:

3235 7

 

Trước Điều trị

U: 5,2x5,1cm, SUV max = 7,9

Hạch cạnh ĐMC 2,2cm, max SUV = 4,2

CEA: 97,5

Sau 3 chu kỳ hóa chất

Sau 6 chu kỳ Hóa chất

Khối dạng xơ thùy trên phổi trái 4,4x3,5cm, max SUV: 2,3

Không thấy hạch cạnh ĐMC

CEA: 4,19

3235 8

 

Trước điều trị:

- Tổn thương xương cánh

chậu phải max SUV = 6,68

- Tổn thương S1

Max SUV = 5,4

BN đau xương chậu, hạn chế vận động

Sau điều trị:

Tổn thương xương tan hết.

BN hết đau xương, đi lại vận động bình thường.

 

2. Một vài nét về ung thư phổi không tế bào nhỏ (UTPKTBN), không tế bào vảy giai đoạn tiến xa

Ung thư phổi không tế bào nhỏ đang là một trong những bệnh ung thư hàng đầu về tỷ lệ mắc tại Việt Nam, bệnh nhân thường vào viện khi bệnh ở giai đoạn muộn (giai đoạn III, IV). Các phương pháp điều trị bao gồn: phẫu thuật, xạ trị, hóa chất, điều trị đích, miễn dịch. Lựa chọn và lập kế hoạch điều trị phụ thuộc thể trạng, giai đoạn bệnh và mô học của từng bệnh nhân. Đối với UTPKTBN giai đoạn tiến xa, điều trị chủ yếu dùng các phương pháp toàn thân như hóa chất, điều trị đích, miễn dịch.

Điều trị đích bao gồm thuốc điều trị đích ức chế enzyme tyrosin kinanse (TKIs) hoặc chất ức chế tăng sinh mạch (anti-VEGF, Bevacizumab). Nhóm thuốc TKIs (Gefitinib hay Elortinib) là lựa chọn bước 1 với bệnh nhân ung thư biểu mô tuyến có đột biến EGFR, đặc biệt là đột biến tại các exon 19 và 21 sẽ làm tăng sự nhạy cảm của thuốc; ngược lại đột biến tại exon 20 có thể gây kháng thuốc, những trường hợp này hóa chất là sự lựa chọn thích hợp. Những bệnh nhân phát hiện có đột biến gen EML4-ALK có thể dùng thuốc crizotinib. Nhóm bệnh nhân không có đột biến gen, nếu không phải biểu mô vảy thì có thể điều trị hóa chất phối hợp với Bevacizumab.

Điều trị hóa chất phù hợp với bệnh nhân thể trạng khỏe, loại biểu mô tuyến nhưng không có đột biến gen EGFR, ung thư loại tế bào vảy… Các phác đồ hóa chất thường dùng là phác đồ phối hợp platinium (Cisplatin, Carboplatin) với nhóm Taxane (Paclitaxel, Docetaxel), Gemcitabine, Etoposide, Vinorelbine, Pemetrexed… Pemetrexed là thuốc hóa chất mới được minh chứng có hiệu quả tốt, ít tác dụng phụ trong điều trị ung thư phổi giai đoạn tiến xa.

Pemetrexed được chỉ định điều trị bước 1, điều trị bước 2, điều trị duy trì (điều trị duy trì liên tục hoặc duy trì chuyển đổi) trong ung thư phổi không tế bào nhỏ, không tế bào vảy giai đoạn tiến xa. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh Pemetrexed giúp kéo dài thời gian sống còn toàn bộ, nâng cao chất lượng cuộc sống trong điều trị duy trì ung thư phổi không tế bào nhỏ, không tế bào vảy giai đoạn tiến xa. Nghiên cứu JMEI Pha III so sánh ALIMTA (n= 283) với docetaxel (n=288) trong điều trị bước 2 UTP không TB nhỏ giai đoạn tiến xa, thời gian sống thêm trung bình tăng không đáng kể (8,3 tháng so với 7,9 tháng) nhưng các tác dụng phụ khi điều trị Alimta ít gặp hơn so với Docetaxel đặc biệt là biến chứng giảm bạch cầu hạt và giảm bạch cầu hạt có sốt.

Điều trị duy trì chuyển đổi tức là bệnh nhân được điều trị hóa chất ban đầu không có Pemetrexed và được xác định là bệnh không tiến triển trên lâm sàng và cận lâm sàng, sau đó được điều trị duy trì bằng Pemetrexed. Điều trị duy trì liên tục tức là bệnh nhân được điều trị hóa chất phác đồ có Pemetrexed và được xác định là bệnh không tiến triển trên lâm sàng và cận lâm sàng, sau đó được điều trị duy trì bằng Pemetrexed. Các nghiên cứu lâm sàng như nghiên cứu JMEN, nghiên cứu PARAMOUT đều cho thấy điều trị duy trì bằng Pemetrexed giúp cải thiện thời gian sống toàn bộ và thời gian sống bệnh không tiến triển.

Nghiên cứu JMEN là nghiên cứu lâm sàng pha III, mù đôi, ngẫu nhiên, để đánh giá vai trò Pemetrexed khi được điều trị duy trì chuyển đổi trong UTPKTBN, không tế bào vảy giai đoạn tiến xa. Bệnh nhân được điều trị 4 chu kỳ hóa chất với phác đồ nhóm Taxans (Paclitaxel, Docetaxel) hoặc Gemcitabine kết hợp với nhóm Platinum (Cisplatine, Carboplatine). Nếu bệnh không tiến triển thì bệnh nhân được phân ngẫu nhiên thành 2 nhóm: nhóm bệnh nhân điều trị duy trì với Pemetrexed và nhóm không điều trị duy trì (bệnh nhân dùng giả dược, chăm sóc giảm nhẹ). Kết quả cho thấy điều trị duy trì với Pemetrexed giúp tăng thời gian sống thêm toàn bộ trung bình (15,5 tháng so với 10,3 tháng) và thời gian sống bệnh không tiến triển trung bình (4,5 tháng so với 2,6 tháng) với p<0,001.

Nghiên cứu PARAMOUNT là nghiên cứu đánh giá vai trò của Pemetrexed trong điều trị duy trì liên tục. Nghiên cứu gồm những bệnh nhân UTPKTBN, không tế bào vảy giai đoạn tiến xa, chưa được điều trị trước đó, thể trạng tốt. Bệnh nhân được điều trị hóa chất phác đồ Pemetrexed và Cisplatine 4 chu kỳ, sau đó đánh giá theo tiêu chuẩn Recist nếu bệnh không tiến triển thì bệnh nhân phân ngẫu nhiên thành 2 nhóm: nhóm bệnh nhân được điều trị duy trì bằng Pemetrexed, nhóm bệnh nhân điều trị bằng giả dược và chăm sóc triệu chứng. Nghiên cứu cho thấy rằng thời gian sống còn toàn bộ trung bình của nhóm điều trị duy trì bằng Pemetrexed tăng hơn so với nhóm không điều trị (13,9 tháng so với 11 tháng) với p<0,001.

Tóm lại: UTPKTBN, không vảy giai đoạn tiến xa được điều trị duy trì với pemetrexed giúp cải thiện thời gian sống thêm toàn bộ và thời gian sống bệnh không tiến triển. Pemetrexed được dung nạp tốt, ít tác dụng phụ, tác dụng phụ thường ở mức độ nhẹ, thường gặp như mệt mỏi, buồn nôn, nôn, thiếu máu… do vậy có thể dùng cho bệnh nhân có thể trạng yếu.

ungthubachmai.com.vn

 


GS.TS.Mai Trọng Khoa, TS.Phạm Cẩm Phương, BSNT. Lê Viết Nam

Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu

Phối hợp hóa chất, xạ trị gia tốc chiếu ngoài và xạ trị áp sát suất liều cao trong điều trị ung thư thực quản tại Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu, bệnh viện Bạch Mai

Page 3 of 7

Tem dan Don vi Gen tri lieu 1

logo vinmec

Tiêu điểm

Hỗ trợ  

Joomla Templates and Joomla Extensions by ZooTemplate.Com
Hotline: 1900575758 phím 2

Clip

Đối tác chiến lược

chung cư imperia garden

Quảng cáo

Banner

Hình ảnh tiêu biểu

Đối tác chiến lược

chung cư imperia garden

Thống kê

Members : 5165
Content : 1268
Web Links : 3
Content View Hits : 358348