Wednesday, 20 September 2017 04:07

Điều trị đích bệnh nhân ung thư phổi tái phát di căn hạch gây chèn ép khí quản

Read 655 times

Điều trị đích bệnh nhân ung thư phổi tái phát di căn hạch gây chèn ép khí quản

 GS. TS. Mai Trọng Khoa, BSNT. Nguyễn Đức Luân

 Trung tâm Y học hạt  nhân và Ung bướu – Bệnh viện Bạch Mai

 Vài nét về ung thư phổi và điều trị đích (Tageted Therapy):

 Ung thư phổi không tế bào nhỏ đang là bệnh ung thư đứng hàng số 1 về tỉ lệ mới mắc tại Việt Nam, bệnh nhân thường vào viện khi bệnh ở giai đoạn muộn (giai đoạn III, IV). Điều trị toàn thân là hướng điều trị chủ yếu, bao gồn: hóa chất, xạ trị triệu chứng, sinh học. Lựa chọn và lập kế hoạch điều trị phụ thuộc thể trạng, giai đoạn bệnh và mô học của từng bệnh nhân.

                 Điều trị hóa chất phù hợp với bệnh nhân thể trạng khỏe, loại biểu mô tuyến nhưng không có đột biến gen EGFR, ung thư loại tế bào vảy… Phác đồ hóa chất có nhóm Platinum đem lại thời gian sống thêm không tiến triển và thời gian sống thêm toàn bộ cao hơn so với các phác đồ khác trong nhiều nghiên cứu đã được công bố.

                 Điều trị sinh học: thuốc điều trị đích ức chế enzyme tyrosin kinanse (TKIs) hoặc chất ức chế tăng sinh mạch (anti-VEGF, Bevacizumab). Nhóm thuốc TKIs là lựa chọn bước 1 với bệnh nhân ung thư biểu mô tuyến có đột biến EGFR, đặc biệt là đột biến tại các exon 19 và 21 sẽ làm tăng sự nhạy cảm của thuốc, trong một số nghiên cứu cho thấy đột biến tại exon 20 có thể gây kháng thuốc, những trường hợp này hóa chất là sự lựa chọn thích hợp. Những bệnh nhân phát hiện có đột biến gen EML4-ALK, có thể dùng thuốc crizotinib. Nhóm bệnh nhân không có đột biến gen, nếu không phải biểu mô vảy thì có thể điều trị hóa chất phối hợp với Bevacizumab.

                 Nhiều nghiên cứu đã chứng minh: sử dụng hóa chất hoặc TKIs điều trị bước một và chuyển sang bước 2 khi bệnh tiến triển (2 loại đảo chỗ cho nhau), kết quả cho thấy nhóm bệnh nhân được điều trị TKIs bước 1 rồi hóa chất bước 2 có kết quả tốt hơn. Như vậy, TKIs là lựa chọn bước 1 điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ có đột biến gen tại exon 19 và 21, và nên làm xét nghiệm đột biến gen EGFR cho tất cả bệnh nhân ung thư phổi biểu mô tuyến.

 Sau đây là ca lâm sàng một bệnh nhân ung thư phổi được điều trị thành công bằng thuốc TKIs (Erlotinib).

 Bệnh cảnh:

 Bệnh nhân Trần Thị H., nữ, 68 tuổi

 Địa chỉ:  Hai Bà Trưng - Hà Nội

 Nghề nghiệp: Hưu trí

 Ngày vào viện: 06/3/2017

 Lý do vào viện: Khó thở

 Bệnh sử: Bệnh nhân được chẩn đoán Ung thư phổi phải cách 6 năm tại bệnh viện 108, bệnh nhân đã được phẫu thuật cắt thùy trên phổi phải, xạ trị gia tốc và hóa trị (không rõ phác đồ) tại bệnh viện 108. Sau điều trị bệnh nhân ổn định, khám và theo dõi định kỳ theo hẹn.

 Giải phẫu bệnh sau mổ (cách 6 năm): Ung thư biểu mô tuyến.

 Khoảng 3 tháng nay, bệnh nhân xuất hiện ho khan và khó thở tăng dần, xuất hiện cơn khó thở, thở rít kèm theo đau tức ngực phải, không sốt. Bệnh nhân thấy mệt mỏi nhiều, ăn kém, gày sút cân. Bệnh nhân đã tự dùng thuốc giảm ho, thuốc kháng sinh nhưng không đỡ. Bệnh nhân vào Trung tâm y học hạt nhân và Ung bướu, Bệnh viện Bạch mai để khám bệnh và điều trị.

 Tiền sử:

 Tiền sử bản thân: Ung thư phổi phải đã phẫu thuật, xạ trị, hóa trị cách 6 năm tại  bệnh viện 108. Giải phẫu bệnh sau mổ:  Ung thư biểu mô tuyến.

 Đái tháo đường type II đang điều trị bằng Insulin theo phác đồ chuyên khoa nội tiết.

 Tăng huyết áp điều trị thuốc theo chuyên khoa tim mạch với: Amlor 5 mg, uống 1viên/ ngày; Micardis 40 mg, uống 1 viên/ ngày.

 Không có tiền sử dị ứng

 Không hút thuốc lá.

 Tiền sử gia đình: chưa phát hiện bất thường

 Khám lúc vào viện:

 Bệnh nhân tỉnh táo, ho khan, khàn tiếng

 Bệnh nhân khó thở nhiều, thở oxy 3l/ph, Sp02: 96-97%

 Bệnh nhân thở rít, khò khè, nghe phổi thấy có rales rít.

 Thể trạng trung bình, chiều cao: 150 cm, cân nặng: 51 kg

 Hạch ngoại vi không sờ thấy

 Tim đều, T1, T2 rõ

 Cơ quan bộ phận khác chưa phát hiện bất thường

 Xét nghiệm cơ bản lúc vào viện:

 Công thức máu: bạch cầu tăng nhẹ với: Hồng cầu: 4,41 (T/l), Hemoglobin: 128 (g/l), Bạch cầu: 12,2 (G/l), Bạch cầu đa nhân trung tính: 10,1 (G/l), Tiểu cầu: 193 (G/l).

 Sinh hóa máu: Ure: 6,0 mmol/L; Creatinin: 80 micromol/L; GOT: 15 U/L, GPT: 20 U/L, Glucose: 7,2 mmol/L.

 Chất chỉ điểm ung thư (Tumor markers): CEA: 2,63 (ng/ml), Cyfra 21-1 tăng nhẹ: 12,8 ng/mL.

 Vi sinh: HbsAg (-), HCV (-)

 Đông máu cơ bản: bình thường

 Chụp cắt lớp vi tính lồng ngực (MSCT 128 dãy): Khối hạch lớn trung thất trước trên bên phải, cạnh phải khí quản, ngay trên chạc ba khí phế quản, bờ thùy múi, kích thước 44x51x67 mm, ngấm thuốc mạnh, đè ép khí quản gây hẹp lòng khí quản đoạn dài 15 mm, ấn lõm nhu mô phổi lân cận.

 3269 anh1      3269 anh2

 Hình 1a: Hình ảnh chụp MSCT lồng ngực thấy khối hạch lớn trung thất trước trên bên phải, cạnh phải khí quản, ngay trên chạc ba khí phế quản, bờ thùy múi, kích thước 44x51x67 mm, ngấm thuốc mạnh, đè ép khí quản gây hẹp lòng khí quản đoạn dài 15 mm, ấn lõm nhu mô phổi lân cận.( mũi tên vàng)

 

 3269 anh3

Hình 1b: Hình ảnh chụp MSCT lồng ngực thấy khối hạch lớn trung thất ngấm thuốc mạnh, đè ép khí quản gây hẹp lòng khí quản, ấn lõm nhu mô phổi lân cận (mũi tên đỏ)

 Nội soi phế quản và Sinh thiết u phổi: Khối u sần vách phải khí quản đoạn dài 5-7 cm, gây hẹp 60% lòng khí quản. Sinh thiết tổn thương làm giải phẫu bệnh: Ung thư biểu mô tuyến

 Xét nghiệm gen: Có đột biến gen L858R ở exon 21 trên gen EGFR.                                                                  

 Chụp cộng hưởng từ sọ não: không thấy hình ảnh bất thường.

 Xạ hình xương: không thấy hình ảnh bất thường.

 Tóm lại:

 Bệnh nhân nữ, 68 tuổi, vào viện vì khó thở, ho.

 Chẩn đoán xác định: Ung thư phổi phải tái phát di căn hạch chèn ép khí quản/ Tăng huyết áp/ Đái tháo đường type II. (TxN2M0).

 Mô bệnh học: Ung thư biểu mô tuyến.

 Kết quả xét nghiệm đột biến EGFR: Có đột biến gen L858R ở exon 21 trên gen EGFR.

 Xử trí:

 Bệnh nhân có những cơn khó thở, suy hô hấp do khối u chèn ép khí quản, bệnh nhân được sử dụng thuốc giãn phế quản, giảm ho: Salbutamol 4 mg x 3 viên/ngày; Terpin codein x 4 viên/ ngày, Ventolin 5ml x 3 nang khí dung 3 lần/ngày, Pulmicort 500 mcg/2 ml x 3 nang khí dung 3 lần/ngày.

 Chống phù nề, chèn ép: Solumedron 40 mg x 1 lọ/ ngày tiêm tĩnh mạch chậm.

 Thuốc điều trị tăng huyết áp, đái tháo đường type II theo phác đồ chuyên khoa tim mạch và nội tiết.

 Nâng cao thể trang: Aminoplasma 5 % x 500 ml truyền tĩnh mạch 30 giọt/phút, Lipofuldin 20% x 250 ml truyền tĩnh mạch 20 giọt/phút.

 Bệnh nhân được hội chẩn hội đồng tại Trung tâm học hạt nhân và Ung bướu – Bệnh viện Bạch Mai: do khối u kích thước lớn, xâm lấn và chèn ép khí quản nhiều nên chưa có chỉ định phẫu thuật, xạ trị. Do vậy bệnh nhân được chỉ định sử dụng phương pháp điều trị đích trước, sau đó nếu khối u nhỏ lại, giảm chèn ép thì cân nhắc xạ trị hoặc phẫu thuật sau.

 Bệnh nhân được điều trị đích bước 1 với Erlotinib (Tarceva) 150 mg x 1 viên, uống hàng ngày.

 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ SAU 4 THÁNG.

 Lâm sàng

 Bệnh nhân tỉnh

 Thể trạng tốt, tăng 2 kg, PS:0

 Sinh hoạt bình thường

 Đỡ khó thở, không ho.

 Không xuất hiện những cơn khó thở do chèn ép khí quản.

 Tác dụng phụ khi dùng Tarceva:

 Bệnh nhân xuất hiện nổi mụn ở vùng mặt, bụng sau 7-10 ngày uống thuốc. Tác dụng phụ giảm dần theo thời gian và bệnh nhân không phải dừng hay giảm liều thuốc.

 Xuất hiện chin mé ở kẽ ngón tay và chân sau 3-4 tuần dùng thuốc

 Bệnh nhân được xử trí:

 Kháng sinh Doxycyclin uống 2 viên/ngày,

 Chống phù nề Alpha-Choay x 4 viên/ngày.

 Giảm đau Paracetamol 0,5 g x 2 viên/ngày.

 Thuốc bôi tại chỗ Kem oxyt x 1 tuýp bôi vùng tổn thương 2 lần/ngày.

 Sau xử trí 7-10 ngày các tổn thương chin mé hồi phục tốt. Bệnh nhân không phải dừng thuốc hay giảm liều thuốc.

 Công thức máu: trong giới hạn bình thường.

 Hóa sinh máu: chức năng gan, thận trong giới hạn bình thường

 Chất chỉ điểm u: giảm rõ rệt và gần trở về giới hạn bình thường với: Cyfra 21-1: 3,91  u/ml

 MRI sọ não sau điều trị: không thấy tổn thương não bất thường

 Xạ hình xương: không thấy tổn thương bất thường.

 Hình ảnh chụp MSCT lồng ngực sau điều trị 4 tháng (hình 2a, 2b):

 Khối lớn ở trung thất kích thước 40x28 mm, gây chèn ép một phần khí quản, ngấm thuốc sau tiêm.

  3269 anh4  3269 anh5

 Hình 2a: Hình ảnh chụp MSCT lồng ngực sau điều trị 4 tháng cho thấy khối lớn ở trung thất kích thước 40x28 mm, gây chèn ép một phần khí quản, ngấm thuốc sau tiêm.

3269 anh6 

 Hình 2b: Hình ảnh chụp MSCT lồng ngực sau điều trị 4 tháng cho thấy khối lớn ở trung thất kích thước 40x28 mm, ngấm thuốc sau tiêm.

 So sánh trước và sau điều trị:

 Lâm sàng:

 Trước điều trị: Khó thở, xuất hiện cơn co thắt phế quản gây suy hô hấp cấp do chèn ép khí quản, ho khan, mệt mỏi ăn uống kém.

 Sau điều trị: Đỡ khó thở, không có cơn suy hô hấp do chèn ép khí quản, đỡ ho, tăng cân và sinh hoạt bình thường.

 Hình ảnh PET/CT trước và sau điều trị 4 tháng: 

3269 anh7

3269 anh8
3269 anh9 3269 anh10
3269 anh11 3269 anh12
3269 anh13 3269 anh14

Trước điều trị: Khối hạch lớn trung thất trước trên bên phải, trên chạc ba khí phế quản, kích thước 44x51x67 mm.

Đè ép khí quản gây hẹp lòng khí quản đoạn dài 15 mm, ấn lõm nhu mô phổi lân cận.

Sau điều trị 4 tháng: khối hạch lớn ở trung thất kích thước 40x28 mm

Chèn ép một phần khí quản, ngấm thuốc sau tiêm.

   KẾT LUẬN

 Bệnh đáp ứng một phần

 Các triệu chứng lâm sàng được cải thiện tốt

                 - Bệnh nhân đỡ khó thở, không xuất hiện cơn khó thở do bị chèn ép khí quản.

 - Bệnh nhân đỡ ho khan, không đau tức ngực.

                 - Không mệt mỏi, ăn uống tốt.

 - Sinh hoạt và làm việc bình thường.

 - Chất chỉ điểm ung thư: từ Cyfra 21-1: 12,8 (ng/ml) giảm xuống gần giới hạn bình thường là còn 3,91 (ng/ml)

 Lựa chọn điều trị bệnh ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn tiến xa phụ thuộc vào: loại mô bệnh học, đột biến EGFR, thể trạng và kinh tế gia đình bệnh nhân…

 Erlotinib (Tarceva) là 1 trong  các thuốc điều trị đích (nhóm phân tử nhỏ) có hiệu quả trong điều trị bước 1 ở những bệnh nhân ung thư phổi loại biểu mô tuyến có đột biến gen EGFR.

  Ưu điểm: Dùng đường uống, ít độc tính, tác dụng phụ ở mức độ nhẹ, bệnh nhân có thể điều trị ngoại trú được.


Nguồn: ungthubachmai.com.vn

Điều trị đích bệnh nhân ung thư phổi tái phát di căn hạch gây chèn ép khí quản

GS. TS. Mai Trọng Khoa, BSNT. Nguyễn Đức Luân

Trung tâm Y học hạt  nhân và Ung bướu – Bệnh viện Bạch Mai

Vài nét về ung thư phổi và điều trị đích (Tageted Therapy):

Ung thư phổi không tế bào nhỏ đang là bệnh ung thư đứng hàng số 1 về tỉ lệ mới mắc tại Việt Nam, bệnh nhân thường vào viện khi bệnh ở giai đoạn muộn (giai đoạn III, IV). Điều trị toàn thân là hướng điều trị chủ yếu, bao gồn: hóa chất, xạ trị triệu chứng, sinh học. Lựa chọn và lập kế hoạch điều trị phụ thuộc thể trạng, giai đoạn bệnh và mô học của từng bệnh nhân.

          Điều trị hóa chất phù hợp với bệnh nhân thể trạng khỏe, loại biểu mô tuyến nhưng không có đột biến gen EGFR, ung thư loại tế bào vảy… Phác đồ hóa chất có nhóm Platinum đem lại thời gian sống thêm không tiến triển và thời gian sống thêm toàn bộ cao hơn so với các phác đồ khác trong nhiều nghiên cứu đã được công bố.

          Điều trị sinh học: thuốc điều trị đích ức chế enzyme tyrosin kinanse (TKIs) hoặc chất ức chế tăng sinh mạch (anti-VEGF, Bevacizumab). Nhóm thuốc TKIs là lựa chọn bước 1 với bệnh nhân ung thư biểu mô tuyến có đột biến EGFR, đặc biệt là đột biến tại các exon 19 và 21 sẽ làm tăng sự nhạy cảm của thuốc, trong một số nghiên cứu cho thấy đột biến tại exon 20 có thể gây kháng thuốc, những trường hợp này hóa chất là sự lựa chọn thích hợp. Những bệnh nhân phát hiện có đột biến gen EML4-ALK, có thể dùng thuốc crizotinib. Nhóm bệnh nhân không có đột biến gen, nếu không phải biểu mô vảy thì có thể điều trị hóa chất phối hợp với Bevacizumab.

          Nhiều nghiên cứu đã chứng minh: sử dụng hóa chất hoặc TKIs điều trị bước một và chuyển sang bước 2 khi bệnh tiến triển (2 loại đảo chỗ cho nhau), kết quả cho thấy nhóm bệnh nhân được điều trị TKIs bước 1 rồi hóa chất bước 2 có kết quả tốt hơn. Như vậy, TKIs là lựa chọn bước 1 điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ có đột biến gen tại exon 19 và 21, và nên làm xét nghiệm đột biến gen EGFR cho tất cả bệnh nhân ung thư phổi biểu mô tuyến.

Sau đây là ca lâm sàng một bệnh nhân ung thư phổi được điều trị thành công bằng thuốc TKIs (Erlotinib).

Bệnh cảnh:

Bệnh nhân Trần Thị H., nữ, 68 tuổi

Địa chỉ:  Hai Bà Trưng - Hà Nội

Nghề nghiệp: Hưu trí

Ngày vào viện: 06/3/2017

Lý do vào viện: Khó thở

Bệnh sử: Bệnh nhân được chẩn đoán Ung thư phổi phải cách 6 năm tại bệnh viện 108, bệnh nhân đã được phẫu thuật cắt thùy trên phổi phải, xạ trị gia tốc và hóa trị (không rõ phác đồ) tại bệnh viện 108. Sau điều trị bệnh nhân ổn định, khám và theo dõi định kỳ theo hẹn.

Giải phẫu bệnh sau mổ (cách 6 năm): Ung thư biểu mô tuyến.

Khoảng 3 tháng nay, bệnh nhân xuất hiện ho khan và khó thở tăng dần, xuất hiện cơn khó thở, thở rít kèm theo đau tức ngực phải, không sốt. Bệnh nhân thấy mệt mỏi nhiều, ăn kém, gày sút cân. Bệnh nhân đã tự dùng thuốc giảm ho, thuốc kháng sinh nhưng không đỡ. Bệnh nhân vào Trung tâm y học hạt nhân và Ung bướu, Bệnh viện Bạch mai để khám bệnh và điều trị.

Tiền sử:

Tiền sử bản thân: Ung thư phổi phải đã phẫu thuật, xạ trị, hóa trị cách 6 năm tại  bệnh viện 108. Giải phẫu bệnh sau mổ:  Ung thư biểu mô tuyến.

Đái tháo đường type II đang điều trị bằng Insulin theo phác đồ chuyên khoa nội tiết.

Tăng huyết áp điều trị thuốc theo chuyên khoa tim mạch với: Amlor 5 mg, uống 1viên/ ngày; Micardis 40 mg, uống 1 viên/ ngày.

Không có tiền sử dị ứng

Không hút thuốc lá.

Tiền sử gia đình: chưa phát hiện bất thường

Khám lúc vào viện:

Bệnh nhân tỉnh táo, ho khan, khàn tiếng

Bệnh nhân khó thở nhiều, thở oxy 3l/ph, Sp02: 96-97%

Bệnh nhân thở rít, khò khè, nghe phổi thấy có rales rít.

Thể trạng trung bình, chiều cao: 150 cm, cân nặng: 51 kg

Hạch ngoại vi không sờ thấy

Tim đều, T1, T2 rõ

Cơ quan bộ phận khác chưa phát hiện bất thường

Xét nghiệm cơ bản lúc vào viện:

Công thức máu: bạch cầu tăng nhẹ với: Hồng cầu: 4,41 (T/l), Hemoglobin: 128 (g/l), Bạch cầu: 12,2 (G/l), Bạch cầu đa nhân trung tính: 10,1 (G/l), Tiểu cầu: 193 (G/l).

Sinh hóa máu: Ure: 6,0 mmol/L; Creatinin: 80 micromol/L; GOT: 15 U/L, GPT: 20 U/L, Glucose: 7,2 mmol/L.

Chất chỉ điểm ung thư (Tumor markers): CEA: 2,63 (ng/ml), Cyfra 21-1 tăng nhẹ: 12,8 ng/mL.

Vi sinh: HbsAg (-), HCV (-)

Đông máu cơ bản: bình thường

Chụp cắt lớp vi tính lồng ngực (MSCT 128 dãy): Khối hạch lớn trung thất trước trên bên phải, cạnh phải khí quản, ngay trên chạc ba khí phế quản, bờ thùy múi, kích thước 44x51x67 mm, ngấm thuốc mạnh, đè ép khí quản gây hẹp lòng khí quản đoạn dài 15 mm, ấn lõm nhu mô phổi lân cận.

               

Hình 1a: Hình ảnh chụp MSCT lồng ngực thấy khối hạch lớn trung thất trước trên bên phải, cạnh phải khí quản, ngay trên chạc ba khí phế quản, bờ thùy múi, kích thước 44x51x67 mm, ngấm thuốc mạnh, đè ép khí quản gây hẹp lòng khí quản đoạn dài 15 mm, ấn lõm nhu mô phổi lân cận.( mũi tên vàng)

Hình 1b: Hình ảnh chụp MSCT lồng ngực thấy khối hạch lớn trung thất ngấm thuốc mạnh, đè ép khí quản gây hẹp lòng khí quản, ấn lõm nhu mô phổi lân cận (mũi tên đỏ)

Nội soi phế quản và Sinh thiết u phổi: Khối u sần vách phải khí quản đoạn dài 5-7 cm, gây hẹp 60% lòng khí quản. Sinh thiết tổn thương làm giải phẫu bệnh: Ung thư biểu mô tuyến

Xét nghiệm gen: Có đột biến gen L858R ở exon 21 trên gen EGFR.                                                                  

Chụp cộng hưởng từ sọ não: không thấy hình ảnh bất thường.

Xạ hình xương: không thấy hình ảnh bất thường.

Tóm lại:

Bệnh nhân nữ, 68 tuổi, vào viện vì khó thở, ho.

Chẩn đoán xác định: Ung thư phổi phải tái phát di căn hạch chèn ép khí quản/ Tăng huyết áp/ Đái tháo đường type II. (TxN2M0).

Mô bệnh học: Ung thư biểu mô tuyến.

Kết quả xét nghiệm đột biến EGFR: Có đột biến gen L858R ở exon 21 trên gen EGFR.

Xử trí:

Bệnh nhân có những cơn khó thở, suy hô hấp do khối u chèn ép khí quản, bệnh nhân được sử dụng thuốc giãn phế quản, giảm ho: Salbutamol 4 mg x 3 viên/ngày; Terpin codein x 4 viên/ ngày, Ventolin 5ml x 3 nang khí dung 3 lần/ngày, Pulmicort 500 mcg/2 ml x 3 nang khí dung 3 lần/ngày.

Chống phù nề, chèn ép: Solumedron 40 mg x 1 lọ/ ngày tiêm tĩnh mạch chậm.

Thuốc điều trị tăng huyết áp, đái tháo đường type II theo phác đồ chuyên khoa tim mạch và nội tiết.

Nâng cao thể trang: Aminoplasma 5 % x 500 ml truyền tĩnh mạch 30 giọt/phút, Lipofuldin 20% x 250 ml truyền tĩnh mạch 20 giọt/phút.

Bệnh nhân được hội chẩn hội đồng tại Trung tâm học hạt nhân và Ung bướu – Bệnh viện Bạch Mai: do khối u kích thước lớn, xâm lấn và chèn ép khí quản nhiều nên chưa có chỉ định phẫu thuật, xạ trị. Do vậy bệnh nhân được chỉ định sử dụng phương pháp điều trị đích trước, sau đó nếu khối u nhỏ lại, giảm chèn ép thì cân nhắc xạ trị hoặc phẫu thuật sau.

Bệnh nhân được điều trị đích bước 1 với Erlotinib (Tarceva) 150 mg x 1 viên, uống hàng ngày.

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ SAU 4 THÁNG.

Lâm sàng

Bệnh nhân tỉnh

Thể trạng tốt, tăng 2 kg, PS:0

Sinh hoạt bình thường

Đỡ khó thở, không ho.

Không xuất hiện những cơn khó thở do chèn ép khí quản.

Tác dụng phụ khi dùng Tarceva:

Bệnh nhân xuất hiện nổi mụn ở vùng mặt, bụng sau 7-10 ngày uống thuốc. Tác dụng phụ giảm dần theo thời gian và bệnh nhân không phải dừng hay giảm liều thuốc.

Xuất hiện chin mé ở kẽ ngón tay và chân sau 3-4 tuần dùng thuốc

Bệnh nhân được xử trí:

Kháng sinh Doxycyclin uống 2 viên/ngày,

Chống phù nề Alpha-Choay x 4 viên/ngày.

Giảm đau Paracetamol 0,5 g x 2 viên/ngày.

Thuốc bôi tại chỗ Kem oxyt x 1 tuýp bôi vùng tổn thương 2 lần/ngày.

Sau xử trí 7-10 ngày các tổn thương chin mé hồi phục tốt. Bệnh nhân không phải dừng thuốc hay giảm liều thuốc.

Công thức máu: trong giới hạn bình thường.

Hóa sinh máu: chức năng gan, thận trong giới hạn bình thường

Chất chỉ điểm u: giảm rõ rệt và gần trở về giới hạn bình thường với: Cyfra 21-1: 3,91  u/ml

MRI sọ não sau điều trị: không thấy tổn thương não bất thường

Xạ hình xương: không thấy tổn thương bất thường.

Hình ảnh chụp MSCT lồng ngực sau điều trị 4 tháng (hình 2a, 2b):

Khối lớn ở trung thất kích thước 40x28 mm, gây chèn ép một phần khí quản, ngấm thuốc sau tiêm.

 

                                

 

Hình 2a: Hình ảnh chụp MSCT lồng ngực sau điều trị 4 tháng cho thấy khối lớn ở trung thất kích thước 40x28 mm, gây chèn ép một phần khí quản, ngấm thuốc sau tiêm.

 

 

Hình 2b: Hình ảnh chụp MSCT lồng ngực sau điều trị 4 tháng cho thấy khối lớn ở trung thất kích thước 40x28 mm, ngấm thuốc sau tiêm.

So sánh trước và sau điều trị:

Lâm sàng:

Trước điều trị: Khó thở, xuất hiện cơn co thắt phế quản gây suy hô hấp cấp do chèn ép khí quản, ho khan, mệt mỏi ăn uống kém.

Sau điều trị: Đỡ khó thở, không có cơn suy hô hấp do chèn ép khí quản, đỡ ho, tăng cân và sinh hoạt bình thường.

Hình ảnh PET/CT trước và sau điều trị 4 tháng:                                            

                                                            

                                                       

                                                     

 

Sau điều trị 4 tháng: khối hạch lớn ở trung thất kích thước 40x28 mm

Chèn ép một phần khí quản, ngấm thuốc sau tiêm.

.

 

Trước điều trị: Khối hạch lớn trung thất trước trên bên phải, trên chạc ba khí phế quản, kích thước 44x51x67 mm.

Đè ép khí quản gây hẹp lòng khí quản đoạn dài 15 mm, ấn lõm nhu mô phổi lân cận.

 
 

 


                                    

                                                     

                                        

 

 

KẾT LUẬN

Bệnh đáp ứng một phần

Các triệu chứng lâm sàng được cải thiện tốt

          - Bệnh nhân đỡ khó thở, không xuất hiện cơn khó thở do bị chèn ép khí quản.

- Bệnh nhân đỡ ho khan, không đau tức ngực.

          - Không mệt mỏi, ăn uống tốt.

- Sinh hoạt và làm việc bình thường.

- Chất chỉ điểm ung thư: từ Cyfra 21-1: 12,8 (ng/ml) giảm xuống gần giới hạn bình thường là còn 3,91 (ng/ml)

Lựa chọn điều trị bệnh ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn tiến xa phụ thuộc vào: loại mô bệnh học, đột biến EGFR, thể trạng và kinh tế gia đình bệnh nhân…

Erlotinib (Tarceva) là 1 trong  các thuốc điều trị đích (nhóm phân tử nhỏ) có hiệu quả trong điều trị bước 1 ở những bệnh nhân ung thư phổi loại biểu mô tuyến có đột biến gen EGFR.

 Ưu điểm: Dùng đường uống, ít độc tính, tác dụng phụ ở mức độ nhẹ, bệnh nhân có thể điều trị ngoại trú được.

Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Tem dan Don vi Gen tri lieu 1

logo vinmec

Hỗ trợ  

Joomla Templates and Joomla Extensions by ZooTemplate.Com
Hotline: 1900575758 phím 2

Clip

Đối tác chiến lược

chung cư imperia garden

Quảng cáo

Banner

Hình ảnh tiêu biểu

Đối tác chiến lược

chung cư imperia garden

Thống kê

Members : 5052
Content : 1268
Web Links : 3
Content View Hits : 358344