Tuesday, 12 May 2020 03:18

Lợi ích của dinh dưỡng hợp lý trong điều trị bệnh nhân ung thư

Read 82 times

ThS. Trần Ngọc Hải*, TS. Hoàng Thị Kim Thanh** (Tổng hợp)

*Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu - Bệnh viện Bạch Mai

** Viện Dinh dưỡng Quốc gia

 

Khi cơ thể khỏe mạnh, ăn đa dạng thực phẩm để có đủ chất dinh dưỡng và calo cần thiết thường không phải là vấn đề khó khăn. Hầu hết các hướng dẫn dinh dưỡng đều nhấn mạnh việc ăn đủ 4 nhóm thực phẩm (chất bột, chất đạm, chất béo, vitamin và muối khoáng) với tỉ lệ cân đối. Nên ăn nhiều rau, trái cây tươi và các sản phẩm ngũ cốc không xay xát, chế biến quá kỹ. Giảm bớt lượng thịt đỏ, đặc biệt là các loại thịt được chế biến công nghiệp hoặc nhiều chất béo; Ăn lượng chất béo vừa phải;ăn ít đường, muối; duy trì cân nặng ở mức thích hợp. Nhưng khi đang điều trị ung thư, những điều này có thể khó thực hiện do nhiều yếu tố tác động, đặc biệt là khi có tác dụng phụ của các phương pháp điều trị.

Dinh dưỡng là một phần quan trọng trong chăm sóc và điều trị bệnh nhân ung thư. Bệnh nhân ung thư có thể ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng, ngược lại tình trạng dinh dưỡng kém ảnh hưởng đến đáp ứng điều trị, cách thức điều trị ung thư và chất lượng cuộc sống.

Trong quá trình điều trị bệnh ung thư, người bệnh cần có một chế độ dinh dưỡng và sức khỏe thật tốt vừa để chiến đấu với căn bệnh, vừa có thể đáp ứng được các phương pháp điều trị như hóa trị, xạ trị... và giúp người bệnh hồi phục sau điều trị thành công.

Đa số bệnh nhân ung thư chỉ tập trung vào điều trị mà chưa chú trọng đến chế độ dinh dưỡng để nâng cao thể trạng.

Sự can thiệp dinh dưỡng đúng và sớm trong ung thư giúp:

-  Ngăn ngừa hoặc điều chỉnh các thiếu hụt dinh dưỡng như sụt cân, mất khối nạc.

-  Đạt được và duy trì thể trọng tối ưu.

-  Tăng khả năng dung nạp với các phương pháp điều trị chống khối u.

-  Giảm thiểu các tác dụng phụ ngắn hạn và dài hạn của việc điều trị.

-  Giúp hệ miễn dịch chiến đấu với nhiễm khuẩn.

-  Giúp cơ thể hồi phục và làm lành vết thương.

-  Cải thiện tiên lượng, tăng khả năng hồi phục.

-  Nâng cao chất lượng cuộc sống.

Nhu cầu dinh dưỡng của người mắc bệnh ung thư khác nhau ở mỗi cá thể, nhưng cũng có những nguyên tắc chung để giúp người bệnh nâng cao thể trạng, tăng cường sức khỏe.

Nguyên tắc Dinh dưỡng chung cho bệnh nhân ung thư

Để đảm bảo đủ nhu cầu dinh dưỡng, người bệnh cần phải ăn uống đầy đủ thực phẩm đảm bảo 4 nhóm thức ăn và uống đủ nước. Một chế độ ăn ít thịt gia súc (bò, lợn, dê...), lượng vừa phải thịt gia cầm (gà, ngan, chim...) nhiều cá, rau, thêm dầu thực vật phù hợp, uống đủ nước và vận động, tập thể dục thể thao vừa sức sẽ giúp cơ thể đủ chất dinh dưỡng và sức khỏe để chống lại ung thư. Không phải ăn uống đủ dinh dưỡng là "cung cấp thêm chất đạm làm khối u to nhanh", chỉ ăn chay hoặc gạo lứt - muối mè khối u sẽ nhỏ lại (do không có chất nuôi dưỡng)... như nhiều người vẫn lầm tưởng. Mà phải ăn đủ dinh dưỡng mới có đủ sức khỏe để chữa bệnh. Nên chiều theo khẩu vị của người bệnh, chia nhỏ các bữa ăn để người bệnh dễ hấp thụ dưỡng chất.

Người nhà cũng nên khuyên người bệnh chịu khó vận động, ít nằm một chỗ để cơ thể được thoải mái giúp bộ máy tiêu hóa hoạt động hiệu quả hơn; đầu óc được thư giãn, tránh suy nghĩ lo lắng quá sẽ giúp cho việc điều trị đạt kết quả cao hơn.

Một số loại dưỡng chất cần đảm bảo trong bữa ăn hàng ngày đối với bệnh nhân ung thư:

- Đạm: Thịt cung cấp cho cơ thể các loại acid amin thiết yếu giúp tái tạo các tổ chức bị tổn thương và tham gia vào hệ thống miễn dịch giúp tăng cường sức đề kháng. Khi cơ thể không nhận đủ protein nó sẽ tự tiêu cơ bắp để lấy nhiên liệu cần thiết. Điều này làm cơ thể chậm và khó phục hồi sau khi bị bệnh và dễ mắc các nhiễm khuẩn. Người mắc bệnh ung thư thường cần nhiều đạm hơn bình thường, đặc biệt là sau phẫu thuật, hóa trị hoặc xạ trị.

Khẩu phần ăn phải cân đối giữa protein động vật và thực vật. Nên ăn một lượng ít thịt màu đỏ thường là thịt bò, lợn.... Có thể ăn ngày 1 lần hoặc tuần 2-3 lần. Không nên kiêng tuyệt đối thịt màu đỏ vì thành phần của nó rất giàu axit amin cần thiết và các yếu tố tham gia tạo máu như sắt, vitamin nhóm B.... Các loại thịt màu trắng như thịt gia cầm (gà, vịt...) sẽ có lợi hơn cho sức khoẻ người bệnh. Cũng cần bổ sung thêm các nguồn sắt, kẽm... từ các loại tôm, cua, cá, nhuyễn thể và hải sản. Đây cũng là nguồn cung cấp các acid amin và vi chất dinh dưỡng quý giá cho cơ thể. Ngoài ra trứng, các sản phẩm từ sữa ít béo, các loại hạt (vừng, lạc, đậu đỗ) và các loại đậu quả (đậu Hà Lan, đậu vàng, đậu lăng...), và các sản phẩm chế biến từ đậu nành (đậu phụ, sữa đậu nành, tào phớ…) cũng là nguồn đạm tốt nên sử dụng phối hợp trong bữa ăn cho người bệnh.

- Tinh bột: Là nguồn cung cấp năng lượng chính của cơ thể. Nên chọn các loại ngũ cốc nguyên hạt hay xay xát không quá kỹ (gạo, ngô, lúa mì, hạt lúa mạch, mì ống...), các loại củ (khoai tây, khoai lang, khoai sọ, sắn,...). Cần chế biến mềm để người bệnh dễ ăn và dễ tiêu hóa. Tránh các loại thực phẩm chế biến sẵn chứa nhiều đường đơn (bánh, kẹo, nước ngọt), gây nhiều tác hại cho cơ thể, đồng thời các chất phụ gia cho thêm vào thực phẩm trong quá trình chế biến và bảo quản cũng là một trong những nhân tố góp phần làm tăng tỉ lệ bệnh ung thư.

- Chất béo: Là thành phần cho giá trị năng lượng cao, giúp hình thành cấu trúc màng tế bào, giúp hấp thu các vitamin tan trong dầu (A, D, E, K) có rất nhiều vai trò trong việc duy trì sức khỏe và chống lại các tác dụng phụ trong quá trình điều trị. Do đó trong khẩu phần ăn hàng ngày cần phải có một hàm lượng lipid nhất định, trong đó hàm lượng acid béo không no không quá 50% tổng năng lượng do chất béo cung cấp. Nên ăn cả dầu và mỡ, lượng dầu ăn nên chiếm 2/3 tổng chất béo. Chọn loại dầu hạt còn tốt (dầu hướng dương, dầu ngô, dầu hạt cải, dầu lạc...). Sử dụng dầu dưới dạng xào nấu, rất hạn chế dùng dầu chiên ở nhiệt độ cao sẽ sinh ra các chất độc hại có thể làm kích thích khối u phát triển.

- Rau quả: Chọn các loại quả tươi sạch, đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm. Nên chọn và sử dụng các loại rau, quả đúng vụ, đúng mùa (trái mùa sâu bọ phát triển nhiều sẽ sử dụng nhiều hóa chất trừ sâu và kích thích), bảo quản trong điều kiện lạnh, hạn chế làm mất các vitamin trong quá trình chế biến cũng như sơ chế, bảo quản (rửa sạch xong rồi mới cắt nhỏ, cắt xong nấu ngay, nấu xong ăn ngay). Mỗi ngày nên ăn 2-3 loại rau (gồm cả rau xanh và rau củ) và 2-3 loại quả chín. Rau quả rất có lợi cho sức khỏe do cung cấp các loại vitamin, chất khoáng và chất xơ.

- Nước: Nước có vai trò rất quan trọng đối với sức khỏe. Chức năng của nước đối với cơ thể bao gồm: Vận chuyển các chất dinh dưỡng, vận chuyển và đào thải các sản phẩm của chuyển hóa, giúp hình thành các cấu trúc và hình thái tế bào, duy trì nhiệt độ bình thường của cơ thể, duy trì cân bằng các chất điện giải (nhiều chất điện giải trong cơ thể luôn đi cùng với nước). Cần cho người bệnh uống đủ nước. Tốt nhất là nước rau, nước trái cây, nước chè xanh không pha đặc quá, nước vối hoặc nước sạch đun sôi để nguội. Không dùng các loại nước ngọt, nước tăng lực đóng chai (hộp) cho người bệnh.

- Chất chống oxy hóa: Trong quá trình hoạt động quá sản và loạn sản của tế bào ung thư, phản ứng oxy hóa tạo ra các gốc tự do mạnh và nhiều hơn. Cần bổ sung các thành phần chống oxy hóa để hỗ trợ cơ thể dọn dẹp gốc tự do. Các chất chống oxy hóa bao gồm Beta-Caroten, VitaminC, Vitamin E, Lycopen, Selen và kẽm... Một số thực phẩm thức ăn sau đây giàu chất chống oxy hóa nên bổ sung vào chế độ ăn uống mỗi ngày:

  • Vitamin A: Sản phẩm từ sữa, trứng và gan.
  • Vitamin C: Hầu hết các loại trái cây và rau quả, đặc biệt là cam, chanh, ổi.
  • Vitamin E: Các loại hạt và các loại dầu thực vật, các loại rau lá xanh, rau mầm, giá đỗ.
  • Beta-carotene: Trái cây và rau quả có màu vàng đỏ: cà rốt, xoài, đu đủ chín....
  • Lycopene: Cà chua và dưa hấu.
  • Selenium: Gạo, ngô, lúa mì, các loại hạt, trứng, phô mai và các loại đậu.

Ngoài ra một số gia vị tự nhiên như nghệ, gừng, giềng, tỏi các loại rau thơm (hành, mùi, tía tô, kinh giới...) cũng có nhiều chất chống oxy hóa và kháng sinh thực vật giúp cơ thể tăng cường sức đề kháng. Khi chế biến món ăn cho người bệnh nên lưu ý có thêm các gia vị tự nhiên như: kho thịt với nghệ, kho cá với giềng, kho thịt gà với gừng, xào rau muống với tỏi, mỗi bữa ăn có vài loại rau thơm....

Trong thời gian bị bệnh và điều trị, bệnh nhân cũng thường bị thay đổi khẩu vị. Thực phẩm đặc biệt là thịt, cá hoặc những thực phẩm có hàm lượng đạm cao thường gây cho bệnh nhân có cảm giác đắng hoặc có mùi tanh. Sự thay đổi khẩu vị này sẽ biến mất sau khi chấm dứt điều trị. Các phương pháp sau đây có thể giúp người bệnh giảm thiểu được tình trạng khó chịu:

-  Súc miệng trước khi ăn.

-  Ăn những loại trái cây có vị chua như cam, quýt, chanh, bưởi... (ngoại trừ trường hợp những bệnh nhân đang bị tổn thương đau ở miệng, hầu họng).

-  Ăn bữa nhỏ nhiều lần trong ngày, tăng cường ăn những thức ăn ưa thích, sử dụng các loại gia vị và nước sốt trong món ăn.

Một số vấn đề bệnh nhân có thể gặp phải khi điều trị:

1. Dinh dưỡng khi điều trị phẫu thuật

Sau phẫu thuật, người bệnh sẽ cần thêm calo và protein để chữa lành vết thương và phục hồi. Trong quá trình hồi phục, cần cố gắng phục hồi sớm và duy trì tình trạng dinh dưỡng tốt, ưu tiên các biện pháp dinh dưỡng hỗ trợ đường miệng để tối ưu hóa khẩu phần dinh dưỡng. Một số bệnh nhân khó có thể ăn một chế độ ăn bình thường vì các tác dụng phụ liên quan đến phẫu thuật. Vì vậy cần có biện pháp thích hợp như: ăn qua sonde, dinh dưỡng đường tĩnh mạch….

Một số bệnh nhân đòi hỏi có tư vấn dinh dưỡng riêng để giải quyết hậu quả sau mổ cắt dạ dày và đường tiêu hóa như hội chứng Dumping, hội chứng ruột ngắn.

2. Dinh dưỡng khi xạ trị

Các tác dụng phụ gây ra bởi bức xạ phụ thuộc vào khu vực cơ thể được xạ trị, kích thước của khu vực được xạ trị, loại và tổng liều xạ trị, và số lần điều trị…. Tác dụng phụ thường bắt đầu vào khoảng tuần thứ hai hoặc thứ ba của điều trị và đạt đỉnh khoảng hai phần ba chặng đường của quá trình điều trị. Hầu hết tác dụng phụ đều là tạm thời, thường khỏi sau khi kết thúc điều trị tia xạ từ 2-4 tuần, một số ít có thể kéo dài lâu hơn nhiều.

Khi xạ trị có thể gây ra buồn nôn, nôn, mất cảm giác ngon miệng, thay đổi mùi vị, các vấn đề về răng (viêm chân răng, chảy máu chân răng), viêm cơ, tiêu chảy và kém hấp thu do tổn thương ruột, giảm chức năng miễn dịch.

Ảnh hưởng của tia xạ thay đổi theo vùng chiếu. Tia xạ vùng đầu cổ gây ra rất nhiều vấn đề về tiêu hóa thức ăn như: đau họng, nhiễm trùng miệng, viêm màng nhày, khô miệng kéo dài, mất cấu trúc răng lợi, thay đổi mùi vị, chán ăn, mệt mỏi. Những triệu chứng này xuất hiện trong vòng 7-10 ngày từ khi bắt đầu điều trị. Tia xạ vùng ngực gây viêm thực quản kèm khó nuốt. Tia xạ vùng bụng có thể gây viêm dạ dày, viêm ruột cấp với biểu hiện buồn nôn, nôn, mệt mỏi, chán ăn. Nếu viêm nặng có thể kèm theo kém hấp thu đường đôi, mỡ, điện giải. Tia xạ toàn thân có thể gây tất cả các triệu chứng cấp tính ở trên tùy mức độ. Khi kèm với hóa trị liệu, tia xạ còn ức chế hệ miễn dịch. Một số thực phẩm nhất định có thể làm tăng khả năng tổn thương răng miệng của bệnh nhân:

-  Thực phẩm có gia vị cay nồng.

-  Thực phẩm cứng, có góc cạnh sắc gây khó nhai, nuốt.

Bệnh nhân nên ăn những thực phẩm mềm, dễ dàng nhai và nuốt như trái cây mềm, phô mai, bún, mì, miến, sữa, bột ngũ cốc... Nên tránh ăn cay, mặn, tránh các loại trái cây có vị chua.

Ở bệnh nhân ung thư đầu và cổ, chăm sóc miệng cẩn thận và quản lý răng là cần thiết để giảm nguy cơ hỏng răng, lợi hoặc hoại tử mô xương do tia xạ.

Viêm ruột do tia xạ gây ra có thể thành mãn tính với các triệu chứng loét hoặc tắc nghẽn làm tăng nguy Suy dinh dưỡng (SDD). Viêm ruột mạn tính kết hợp với cắt ruột nhiều gây ra mất chức năng ruột hoặc hội chứng ruột ngắn. Mức độ nặng của bệnh phụ thuộc vào độ dài và vị trí mất chức năng hay đoạn ruột bị cắt. Tình trạng bệnh lý đó bao gồm kém tiêu hóa, kém hấp thu, SDD, mất nước và bất thường chuyển hóa cơ thể, nặng có thể gây tử vong.

Giai đoạn đầu đòi hỏi nuôi ăn tĩnh mạch và giám sát thường xuyên dịch và điện giải trong nhiều tuần, nhiều tháng. Giai đoạn sau nuôi ăn tĩnh mạch kết hợp chế độ ăn theo dõi nghiêm ngặt với công thức nuôi ăn qua sonde hoặc chia bữa nhỏ nhiều lần. Các bữa ăn có nhiều carbohydrate phức hợp, ít mỡ, ít oxalate, không có lactose, nhiều protein, chế biến mềm. Cho dùng thuốc giảm nhu động ruột khi cần thiết. Bổ sung nhiều vitamin như VTM B12, axit folic, VTM A, E, K để phòng bệnh. Luôn giám sát nồng độ chất khoáng huyết thanh để điều chỉnh kịp thời khi có biểu hiện bất thường.

3. Dinh dưỡng khi điều trị hóa chất

Khi điều trị bằng hóa trị liệu có thể gây nên các vấn đề có liên quan tới dinh dưỡng như sau: suy tủy, ức chế sản xuất bạch cầu, bất thường khẩu vị, viêm màng nhầy, viêm thực quản, buồn nôn, nôn và mệt mỏi, thiếu máu, chức năng hệ miễn dịch giảm sút.

Hóa trị liệu là biện pháp điều trị hệ thống gây ảnh hưởng toàn bộ cơ thể. Hoạt động của các hóa chất điều trị không chỉ giới hạn với mô ung thư mà còn ảnh hưởng đến các tế bào bình thường, do vậy gây độc ở nhiều cơ quan, ảnh hưởng đến khẩu phần ăn và chế độ dinh dưỡng. Tác dụng phụ này phụ thuộc vào từng loại hóa chất, liều, thời gian điều trị, các thuốc dùng kèm và đáp ứng của từng cơ thể.

Buồn nôn và nôn thường gặp khi điều trị các thuốc chống ung thư.

-  Thực tế là mặc dù chăm sóc hỗ trợ tích cực nhưng nhiều bệnh nhân vẫn bị tác dụng phụ của hóa chất, đặc biệt phụ thuộc vào liều hóa trị liệu.

-  Bất thường vị giác dẫn đến biếng ăn và ăn rất ít, ỉa chảy hoặc táo bón, hay tắc ruột (nhu động ruột bị ức chế có thể xuất hiện. Các triệu chứng ngộ độc dạ dày, ruột thường không kéo dài, tuy nhiên một số trường hợp điều trị phối hợp nhiều hóa chất có thể gây nặng và kéo dài. Khi điều trị corticosteroid gây ra phá hủy mô, tăng mất protein, kali và canxi qua nước tiểu, rối loạn chuyển hóa protein....

-  Hoá trị liệu hoặc xạ trị ở vùng đầu - cổ có thể gây ra sự giảm tiết nước bọt và dẫn đến khô miệng, góp phần làm tình trạng chán ăn càng trầm trọng.

Trong những trường hợp này, cần lưu ý:

-  Nên ăn thức ăn mềm hoặc chế biến nhiều nước; nhai kẹo cao su hoặc ăn thêm hoa quả chua lượng vừa phải nhằm tăng tiết nước bọt.

-  Tránh ăn nhiều đường.

-  Sử dụng đồ tráng miệng ướp lạnh ít.

-  Vệ sinh răng miệng và súc miệng nước muối tối thiểu 4 lần trong 1 ngày.

-  Uống nhiều nước và uống từng ngụm trong vài phút.

4. Dinh dưỡnghợp lý sau khi điều trị

Hầu hết các tác dụng phụ có liên quan đến ăn uống của phương pháp điều trị ung thư sẽ biến mất sau khi kết thúc điều trị. Nhưng một số tác dụng phụ có thể kéo dài trong một thời gian. Ăn uống tốt, đầy đủ dinh dưỡng sẽ giúp người bệnh lấy lại sức mạnh, niềm tin, xây dựng lại mô và hồi phục thể trạng tốt để chiến thắng bệnh tật.

 

ungthubachmai.vn

Tem dan Don vi Gen tri lieu 1

logo vinmec

Hỗ trợ  

Joomla Templates and Joomla Extensions by ZooTemplate.Com
Hotline: 1900575758 phím 2

Clip

Đối tác chiến lược

chung cư imperia garden

Quảng cáo

Banner

Hình ảnh tiêu biểu

Đối tác chiến lược

chung cư imperia garden

Thống kê

Members : 7513
Content : 1268
Web Links : 3
Content View Hits : 358409