Gen trị liệu

Pralsetinib được chỉ định để điều trị cho bệnh nhân trưởng thành mắc ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC) dương tính với RET-fusion

CN. Vũ Bình Thư (Dịch)

Đơn vị Gen – Tế bào gốc, Bệnh viện Bạch Mai

Pralsetinib được chỉ định để điều trị cho bệnh nhân trưởng thành bị ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC) giai đoạn di căn, dương tính với RET-fusion được phát hiện qua xét nghiệm được FDA chấp thuận.

 LIỀU LƯỢNG VÀ CÁCH DÙNG

Lựa chọn bệnh nhân

  • Lựa chọn bệnh nhân để điều trị bằng Pralsetinib dựa trên sự hiện diện của gen RET-fusion.

Liều dùng khuyến nghị

  • Liều khuyến nghị của Pralsetinib là 400 mg uống một lần mỗi ngày khi bụng đói (không ăn trước ít nhất 2 giờ và ít nhất 1 giờ sau khi dùng Pralsetinib).
  • Tiếp tục điều trị cho đến khi bệnh tiến triển hoặc cho đến khi có độc tính không thể dung nạp được.

Các phản ứng có hại của thuốc                                                                       

  • Các phản ứng có hại thường gặp nhất là mệt mỏi, táo bón, đau cơ xương và tăng huyết áp.
  • Phổ biến nhất là hạ bạch cầu trung tính độ 3-4, giảm phosphate, giảm hemoglobin, giảm natri, giảm canxi (đã hiệu chỉnh) và tăng alanin aminotransferase (ALT)

Điều chỉnh liều lượng đối với các phản ứng có hại

Bảng 1: Mức giảm liều Pralsetinib khuyến nghị đối với các phản ứng có hại

Thứ tự liều

Liều khuyến nghị

Liều đầu tiên

300mg mỗi ngày một lần

Liều thứ hai

200mg mỗi ngày một lần

Liều thứ ba

100mg mỗi ngày một lần

 Ngừng vĩnh viễn Pralsetinib ở những bệnh nhân không thể dung nạp 100 mg thuốc mỗi ngày một lần

Điều chỉnh liều lượng để sử dụng đồng thời với các thuốc ức chế P-glycoprotein (P-gp) và CYP3A mạnh

  • Tránh dùng đồng thời PRALSETINIB với các thuốcức chế P-gp và CYP3A dạng mạnh.
  • Nếu không thể tránh được việc sử dụng đồng thời cả thuốc ức chế P-gp CYP3A dạng mạnh, hãy giảm liều PRALSETINIB hiện tại theo bảng sau:

Liều Pralsetinib hiện tại

Liều Pralsetinib khuyến nghị

400mg đường uống mỗi ngày một lần

200mg đường uống mỗi ngày một lần

300mg đường uống mỗi ngày một lần

200mg đường uống mỗi ngày một lần

200mg đường uống mỗi ngày một lần

100mg đường uống mỗi ngày một lần

  • Sau khi ngừng sử dụng thuốc ức chế từ 3 đến 5 lần thời gian bán thải, tiếp tục sử dụng Pralsetinib với liều đã dùng trước khi bắt đầu sử dụngđồng thời với thuốc ức chế P-gp và CYP3A dạng mạnh

Điều chỉnh liều lượng để sử dụng với thuốc cảm ứng CYP3A mạnh

  • Tránh dùng đồng thời Pralsetinib với các thuốc cảm ứng CYP3A dạng mạnh.
  • Nếu không thể tránh được việc dùng đồng thời với thuốc cảm ứng CYP3A dạng mạnh, hãy tăng liều khởi đầu của Pralsetinib gấp đôi liều Pralsetinib hiện tại, bắt đầu từ ngày thứ 7 khi dùng đồng thời Pralsetinib với thuốc cảm ứng CYP3A dạng mạnh.
  • Sau khi thuốc cảm ứng đã được ngừng sử dụng ít nhất 14 ngày, hãy tiếp tục Pralsetinib với liều lượng đã dùng trước khi bắt đầu thuốc cảm ứng CYP3A dạng mạnh.

 HÌNH THỨC VÀ CÁCH DÙNG

  • Viên nang: 100 mg
  • Pralsetinib được sản xuất để sử dụng đường uống dưới dạng viên nang cứng có thành phần hydroxypropyl methylcellulose (HPMC) chứa 100 mg Pralsetinib.

 CẢNH BÁO VÀ ĐỀ PHÒNG

Bệnh phổi kẽ / Viêm phổi

  • Theo dõi các triệu chứng của phổi có thể dẫn đến bệnh phổi kẽ / viêm phổi.
  • Ngừng Pralsetinib và nhanh chóng hội chẩn để tìm bệnh phổi kẽở bất kỳ bệnh nhân nào có các triệu chứng hô hấp cấp hoặc nặng hơn, có thể là dấu hiệu của bệnh phổi kẽ (ví dụ: khó thở, ho và sốt).
  • Tạm ngừng, giảm liều hoặc ngừng vĩnh viễn Pralsetinib dựa trên mức độ nghiêm trọng của bệnh phổi kẽ đã chẩn đoán xác định. NgừngPralsetinib đối với các phản ứng độ 1 hoặc 2 cho đến khi hết liều và sau đó tiếp tục với liều đã giảm. Ngừng thuốc vĩnh viễn khi mắc bệnh phổi kẽ / viêm phổi tái phát. Ngừng vĩnh viễn đối với các phản ứng độ 3 hoặc 4.

Tăng huyết áp

  • Không sử dụng Pralsetinib bệnh nhân tăng huyết áp không kiểm soát được.
  • Ổn địnhmức huyết áp trước khi bắt đầu dùng Pralsetinib.
  • Theo dõi huyết áp sau 1 tuần, định kỳ hàng tháng và theo chỉ định lâm sàng. Sử dụng hoặc điều chỉnh liều chống tăng huyết áp khi thích hợp. Tạm ngừng, giảm liều hoặc ngừng vĩnh viễn Pralsetinib dựa trên mức độ nghiêm trọng.

Nhiễm độc gan

  • Theo dõi AST và ALT trước khi bắt đầu dùng Pralsetinib, 2 tuần một lần trong 3 tháng đầu, định kỳ hàng tháng và theo chỉ định lâm sàng.
  • Tạm ngừng, giảm liều hoặc ngừng vĩnh viễn Pralsetinib dựa trên mức độ nghiêm trọng

Xuất huyết

  • Ngừng vĩnh viễn Pralsetinib ở những bệnh nhân bị xuất huyết mức nặng hoặc đe dọa đến tính mạng.

Nguy cơ khó lành vết thương

  • Ngưng sử dụng Pralsetinib ít nhất 5 ngày trước ngày phẫu thuật đã lên lịch trước.
  • Không dùng thuốc trong ít nhất 2 tuần sau khi phẫu thuật lớn và cho đến khi vết thương lành hẳn.
  • Tuy nhiên, tính an toàn của việc dùng lại Pralsetinib sau khi giải quyết các biến chứng khó lành vết thương vẫn chưa được thống kê.

Độc tính đối với thai nhi

  • Tư vấn cho phụ nữ có thai dùng Pralsetinib về nguy cơ có thể xảy ra cho thai nhi.
  • Tư vấn cho phụ nữ còn khả năng sinh sản sử dụng biện pháp tránh thai hiệu quả không chứa nội tiết tố trong khi điều trị bằng Pralsetinib và trong 2 tuần sau liều cuối cùng.
  • Tư vấn cho nam giới có bạn tình nữ có khả năng sinh sản sử dụng biện pháp tránh thai hiệu quả trong khi điều trị bằng Pralsetinib và trong 1 tuần sau liều cuối cùng.
  • Do khả năng gây ra các phản ứng có hại nghiêm trọng ở trẻ bú sữa mẹ, khuyến cáo phụ nữ không nên cho con bú trong thời gian điều trị với Pralsetinib và trong 1 tuần sau liều cuối cùng.

 DƯỢC LÝ LÂM SÀNG

Cơ chế hoạt động2,3

  • Pralsetinib là một chất ức chế kinase của gen RET-fusion kiểu hoang dã và gen RET-fusion gây ung thư (CCDC6-RET) và các đột biến (RET V804L, RET V804M và RET M918T) với một nửa nồng độ ức chế tối đa (IC50s) dưới 0,5 nM.
  • Trong các phương pháp thử enzyme tinh khiết, Pralsetinib ức chế DDR1, TRKC, FLT3, JAK1-2, TRKA, VEGFR2, PDGFRb và FGFR1 ở nồng độ cao hơn mà vẫn có thể đạt đượcCmax trên lâm sàng.
  • Trong các thử nghiệm tế bào, Pralsetinib ức chế gen RET ở nồng độ thấp hơn khoảng 14, 40 và 12 lần so với VEGFR2, FGFR2 và JAK2, theo thứ tự tương ứng

Dược lực học 2,3

  • Mối quan hệ giữa mức độ lây nhiễm - tác hại của pralsetinib với thời gian của đápứng dược lực học chưa được mô tả đầy đủ.

Dược động học2,3

  • Dựa trên dữ liệu thử nghiệm lâm sàng, với liều 400 mg x 1 lần / ngày trong điều kiện đói, giá trị trung bình ở trạng thái ổn định [% hệ số biến thiên (CV%)] của nồng độ tối đa trong huyết tương quan sát được (Cmax) và diện tích dưới đường cong nồng độ-thời gian (AUC0-24h ) của Pralsetinib lần lượt là 2830 (52,5%) ng / mL và 43900 (60,2%) h • ng / mL.
  • Pralsetinib Cmax và AUC tăng không đồng nhất trong khoảng liều từ 60 mg đến 600 mg một lần mỗi ngày (0,15 đến 1,5 lần liều khuyến cáo).
  • Nồng độ pralsetinib trong huyết tương đạt trạng thái ổn định sau 3 đến 5 ngày.
  • Tỷ lệ tích lũy trung bình là <2 lần sau khi uống lặp lại một lần mỗi ngày.

Hấp thu2,3

  • Dựa trên dữ liệu thử nghiệm lâm sàng, thời gian trung bình đến khi đạt nồng độ đỉnh (Tmax) dao động từ 2 đến 4 giờ sau khi dùng liều đơn Pralsetinib 60 mg đến 600 mg.

Tương tác với thực phẩm 2,3

  • Dựa trên dữ liệu thử nghiệm lâm sàng, bằng cách dùng một liều duy nhất 400 mg Pralsetinib với một bữa ăn giàu chất béo, (khoảng 800 đến 1000 calo với 50 đến 60% calo từ chất béo), Cmax trung bình (90% CI) của Pralsetinib tăng 104% (65%, 153%), AUC0-INF trung bình (90% CI) tăng 122% (96%, 152%), và Tmax trung bình bị trễ từ 4 đến 8,5 giờ, so với trạng thái nhịn ăn.

Phân phối2,3

  • Thể tích phân bố trung bình (CV%) (Vd / F) của Pralsetinib là 228 L (75%). Liên kết với protein của Pralsetinib là 97,1% và không phụ thuộc vào nồng độ. Tỷ lệ giữa máu và huyết tương là 0,6 - 0,7.

Thải trừ2,3

  • Thời gian bán thải trong huyết tương trung bình (± độ lệch chuẩn) (T1⁄2) của Pralsetinib là 14,7 giờ (6.5) sau khi dùng liều đơn và 22,2 giờ (13.5) sau khi dùng nhiều liều Pralsetinib. Độ thanh thải trung bình (CV%) qua đường uống (CL / F) của Pralsetinib là 9,1 L / h (60%) ở trạng thái ổn định.

Chuyển hóa 2,3

  • Pralsetinib được chuyển hóa chủ yếu bởi CYP3A4 và ở mức độ thấp hơn bởi CYP2D6 và CYP1A2, trong ống nghiệm. Sau khi cho người khỏe mạnh uống một liều uống duy nhất khoảng 310 mg Pralsetinib được gắn nhãn phóng x, các chất chuyển hóa của Pralsetinib từ quá trình oxy hóa (M531, M453, M549b) và glucuronid hóa (M709) phát hiện được là 5% hoặc ít hơn.

Bài tiết 2,3

  • Khoảng 73% (66% ở dạng không thay đổi) tổng liều phóng xạPralsetinib được sử dụng [14C] còn tồn tại trong phân và 6% (4,8% ở dạng không thay đổi) còn tồn tại trong nước tiểu.

 THÔNG TIN TƯ VẤN DÀNH CHO BỆNH NHÂN

Khuyến cáo bệnh nhân nên đọc hướng dẫn dành cho bệnh nhân trên phần nhãn dán thuốc đã được FDA thông qua và,

  • liên hệ với đơn vị cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe nếu thấy các triệu chứng hô hấp mới hoặc ngày càng xấu đi.
  • thường xuyên theo dõi huyết áp và liên hệ với đơn vị cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe nếu gặp các triệu chứng tăng huyết áp hoặc các chỉ số tăng.
  • liên hệ ngay với đơn vị cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe để biết các dấu hiệu hoặc triệu chứng của nhiễm độc gan.
  • liên hệ với đơn vị cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe nếu gặp bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng xuất huyết.
  • Tạm thời ngưng Pralsetinib trước bất kỳ cuộc phẫu thuật được hẹn lịch trước.
  • Thông báo cho đơn vị cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe về tình trạng đã hoặc nghi ngờ có thai.
  • Sử dụng biện pháp tránh thai hiệu quả không chứa nội tiết tốtrong quá trình điều trị với Pralsetinib và trong 2 tuần sau liều cuối cùng.
  • Không cho con bú trong quá trình điều trị với Pralsetinib và trong 1 tuần sau liều cuối cùng.
  • Thông báo cho đơn vị cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe về tất cả các loại thuốc hiện dùng đồng thời, bao gồm thuốc toa, thuốc không kê toa, các thuốc vitamin và thuốc thảo dược.
  • Dùng Pralsetinib khi đói, ít nhất 1 giờ trước và ít nhất 2 giờ sau bữa ăn.

 Bản dịch từ trang web:

https://www.medsynapse.app/#/asia/contents/5d2d4f42-95d4-475c-9b0a-a7e79831f5b3?utm_term=Auto-24032021-02&;utm_campaign=Auto%20Campaign&utm_medium=email&utm_source=medsynapse

 Tài liệu tham khảo

  1. Blueprint Medicines. Gaverto (Pralsetinib). U.S. Food and Drug Administration website. https://www.accessdata.fda.gov/scripts/cder/daf/index.cfm?event=overview.process&;varApplNo=213721. Cited on 7.10.2020
  2. ClinicalTrials.gov [Internet]. Bethesda (MD): National Library of Medicine (US). 2000 Feb 29 -. Identifier NCT03037385, Phase 1/2 Study of the Highly-selective RET Inhibitor, Pralsetinib (BLU-667), in Patients With Thyroid Cancer, Non-Small Cell Lung Cancer, and Other Advanced Solid Tumors (ARROW); 2017 Jan 31 [cited 2020 Oct 7]; Available from: https://clinicaltrials.gov/ct2/show/NCT03037385.
  3. Gainor JF, Curigliano G, Kim DW, Lee DH, Besse B, Baik CS, Doebele RC, Cassier PA, Lopes G, Tan DS, Garralda E. Registrational dataset from the phase I/II ARROW trial of pralsetinib (BLU-667) in patients (pts) with advanced RET fusion+ non-small cell lung cancer (NSCLC). Journal of Clinical Oncology. 2020; 38(15_suppl):9515-9515.

Dấu ấn sinh học dựa vào sự Methyl hóa DNA

Ung thư vú di căn có đột biến PIK3CA

Tư vấn di truyền trong bệnh lý ung thư (Cancer genetic counseling)

Tế bào gốc trung mô ACE2 có thể giúp cải thiện hiệu quả điều trị viêm phổi do COVID-19

Liệu pháp tế bào CAR T trong u lympho không Hodgkinvà đa u tuỷ xương: Cập nhật lâm sàng

Liệu pháp tế bào Cart-T trong điều trị lymphoma

                           Vai trò của xét nghiệm đột biến gen KIT và PDGFRA trên bệnh nhân ung thư dạ dày

FDA chấp thuận liệu pháp CAR-T đầu tiên trong điều trị u lympho tế bào vỏ

 

Sáu phân tử RNA không mã hóa, kích thước dài dự báo thời gian sống thêm không bệnh trong ung thư biểu mô tế bào gan

Triển khai xét nghiệm giải trình tự gen thế hệ mới - NGS tại Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu, Bệnh viện Bạch Mai

 

LIỆU PHÁP TẾ BÀO T CHỨA THỤ THỂ KHÁNG NGUYÊN DẠNG KHẢM

CN. Nguyễn Thị Thu Giang (Lược dịch và tổng hợp)

Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu – Bệnh viện Bạch Mai

 

Tại ESMO 2018 đã trình bày những kết quả của sự thay đổi thực hành lâm sàng trong nghiên cứu SOLO-1 và sau đó công bố trên Tạp chí New England Journal of Medicine.[1] Nghiên cứu này tập trung vào liệu pháp duy trì olaparib sau hóa trị trên phụ nữ mắc ung thư buồng trứng giai đoạn tiến triển. Những bệnh nhân nữ có đột biến BRCA đã cho kết quả rất tốt, tỷ lệ sống bệnh không tiến triển (PFS) được cải thiện đáng kể. Do đó, olaparib được chấp thuận tại nhiều quốc gia trên thế giới.

Từ đó đã nảy sinh ra nhiều câu hỏi quan trọng: Liệu có thể có nhiều phụ nữ hơn được hưởng lợi từ những chất ức chế poly(ADP)-ribose polymerase (PARP)? Liệu những liệu pháp kết hợp sẽ giúp làm tăng thêm hiệu quả điều trị? Ba nghiên cứu được trình bày tại phiên tổng thể của ESMO 2019 đã giúp giải quyết một số những câu hỏi này.

Nghiên cứu PRIMA

Giáo sư Antonio Gonzalez-Martin đã trình bày dữ liệu về PRIMA.[2] Đây là một nghiên cứu ngẫu nhiên đa quốc gia từ các nhóm châu Âu và Mỹ trên hơn 700 phụ nữ mắc ung thư buồng trứng giai đoạn tiến triển điều trị bước đầu, đặc biệt là những bệnh nhân đang ở nguy cơ cao của giai đoạn IV hoặc có ung thư sau phẫu thuật. Sau hóa trị, những bệnh nhân này được điều trị duy trì niraparib hoặc placebo.

Trong những phụ nữ bị thiếu hụt tái tổ hợp tương đồng (HDR) đã có sự cải thiện thời gian PFS đáng kể 57% (tỉ suất nguy cơ [HR] là 0,43). HR 0,43 đã cho thấy những ý nghĩa trong thực hành lâm sàng: PFS trung bình tăng từ khoảng 10 tháng đến hơn 21 tháng, tức đã tăng gấp đôi. Cũng có sự cải thiện có ý nghĩa thống kê của PFS 38% trong toàn bộ những bệnh nhân tham gia nghiên cứu (HR 0,62). Các nhà nghiên cứu tìm hiểu dưới nhóm là những bệnh nhân đầy đủ hoặc thiếu hụt HDR, họ nhận thấy rằng có sự cải thiện có ý nghĩa thống kê trên những phụ nữ có khối u tái tổ hợp tương đồng bình thường (HR 0,68).

Nghiên cứu này cũng có thể bao hàm tất cả những phụ nữ mắc ung thư buồng trứng tiến triển (ung thư nội mạc tử cung và huyết thanh mức cao) có thể được hưởng lợi khi điều trị duy trì niraparib.

Nghiên cứu PAOLA-1

PAOLA-1[3] là một nghiên cứu lâm sàng ngẫu nhiên pha III trên hơn 800 phụ nữ cho thấy sự cải thiện đáng kể về PFS (HR 0,59) trên tất cả những người tham gia nghiên cứu được điều trị bevacizumab và olaparib so với điều trị duy trì bevacizumab đơn thuần. Nghiên cứu này đưa ra kết luận những bệnh nhân có đột biến BRCA có hiệu quả điều trị tốt nhất, tiếp theo là nhóm bệnh nhân có HRD, không có sự cải thiện đáng kể trên những bệnh nhân có đầy đủ HDR (HR 0,92).

Nghiên cứu VELIA

VELIA[4] là một nghiên cứu về hiệu quả của chất ức chế PARP veliparib khi kết hợp với hóa trị và sau đó được tiếp tục sử dụng như liệu pháp duy trì. Các kết quả được trình bày cho thấy sự cải thiện PFS trên những bệnh nhân được điều trị bằng veliparib. Điều này đã đưa ra một kết luận tương tự: những bệnh nhân có đột biến BRCA có đáp ứng tốt hơn những người có HDR nhưng những cải thiện đáng kể được thấy trên cả hai nhóm.

Tổng hợp lại

Bác sĩ Susana Banerjee cho rằng ba nghiên cứu này đã cho thấy ngày càng nhiều phụ nữ có cơ hội được điều trị hiệu quả từ chất ức chế PARP trong điều trị bước đầu như điều trị duy trì ngoài những phụ nữ có đột biến BRCA.

Câu hỏi mấu chốt tiếp theo là: Một số bệnh nhân có thể được đơn trị chất ức chế PARP hay không? Hay liệu kết hợp với bevacizumab có cho hiệu quả điều trị không? Liệu những bệnh nhân có đột biến BRCA sẽ được điều trị hiệu quả từ olaparib hay những bệnh nhân không mang đột biến BRCA sẽ được điều trị hiệu quả với niraparib? Bệnh nhân nào có thể được điều trị hiệu quả khi kết hợp với bevacizumab?

Điều quan trọng đối với một bác sĩ thực hành lâm sàng là làm thế nào để có giảm thiểu các tác dụng phụ chất ức chế PARP điều trị đơn thuần và kết hợp? Mấu chốt là phải hiểu làm thế nào để kiểm soát được các độc tính, sự gián đoạn liều và giảm liều để chúng ta ngày càng có nhiều bệnh nhân được điều trị hiệu quả và lâu bền hơn.

Qua những nghiên cứu này đã cho chúng ta thấy những nghiên cứu được thiết kế tốt và có sự hợp tác quốc tế, chúng ta có thể hy vọng cải thiện được hiệu quả điều trị cho những phụ nữ mắc bệnh ung thư buồng trứng. Chẳng hạn như hiệu quả điều trị đã được cải thiện khi kết hợp bevacizumab với olaparib.

 

Tài liệu tham khảo

  1. Moore K, Colombo N, Scambia G, et al. Maintenance olaparib in patients with newly diagnosed advanced ovarian cancer. N Engl J Med. 2018;379:2495-2505.
  2. González-Martín A, Pothuri B, Vergote I, et al. Niraparib in patients with newly diagnosed advanced ovarian cancer. N Engl J Med. 2019 Sep 28. [Epub ahead of print].
  3. Ray-Coquard IL, Pautier P, Pignata S, et al. Phase III PAOLA-1/ENGOT-ov25 trial: Olaparib plus bevacizumab (bev) as maintenance therapy in patients (pts) with newly diagnosed, advanced ovarian cancer (OC) treated withplatinum-based chemotherapy (PCh) plus bev. Ann Oncol. 2019;30 (Suppl 5): abstract LBA2_PR.
  4. Coleman RL, Fleming GF, Brady MF, et al. Veliparib with first-line chemotherapy and as maintenance therapy in ovarian cancer. N Engl J Med. 2019 Sep 28. [Epub ahead of print].

 Nguồn: https://www.medscape.com/viewarticle/919248

ungthubachmai.vn

 

 

CN. Vũ Bình Thư (Dịch)

Đơn vị Gen-Tế bào gốc, Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu

Bệnh viện Bạch Mai

 

MỤC ĐÍCH

Bộ gen của các khối u bị thiếu hụt enzyme sửa chữa bắt cặp sai (dMMR) có tính bất ổn định vi vệ tinh cao (MSI-H) và chứa hàng trăm đến hàng ngàn đột biến soma mã hóa các gen tân sinh tiềm năng. Do đó, các khối u như vậy có khả năng tạo ra đáp ứng miễn dịch, kích hoạt quá trình điều chỉnh các protein chốt kiểm soát miễn dịch. Pembrolizumab, một kháng thể đơn dòng ức chế thụ thể PD-1, có hoạt tính chống lại các bệnh ung thư do MSI-H/dMMR gây ra. Chúng tôi xin báo cáo dữ liệu từ nghiên cứu pha II KEYNOTE-158 về pembrolizumab ở những bệnh nhân ung thư không phải đại trực tràng giai đoạn tiến triển có MSI-H/dMMR, đã điều trị trước đó.

 

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

Bệnh nhân tham gia nghiên cứu là những người mắc ung thư không phải đại trực tràng giai đoạn tiến triển MSI-H/d-MMR, đã thất bại trong điều trị trước đó. Bệnh nhân được điều trị bằng pembrolizumab 200mg mỗi 3 tuần trong 2 năm hoặc cho đến khi bệnh tiến triển, không thể dung nạp được độc tính hoặc bệnh nhân rút khỏi nghiên cứu. Bệnh nhân được chụp X quang mỗi 9 tuần trong năm đầu điều trị và năm sau là mỗi 12 tuần. Điểm kết thúc nghiên cứu là tỷ lệ đáp ứng khách quan trên mỗi tiêu chí đánh giá tính chất đáp ứng điều trị của khối u đặc (RECIST) phiên bản 1.1, được đánh giá bởi trung tâm hình ảnh phóng xạ độc lập.

 

CÁC KẾT QUẢ

Trong số 233 bệnh nhân được nghiên cứu, phát hiện được 27 loại khối u, với ung thư nội mạc tử cung, dạ dày, ung thư đường mật và ung thư tuyến tụy là phổ biến nhất. Thời gian theo dõi trung bình là 13,4 tháng. Tỷ lệ đáp ứng khách quan là 34,3% (95% CI, 28,3% đến 40,8%). Trung vị thời gian sống không bệnh tiến triển là 4,1 tháng (95% CI, 2,4 đến 4,9 tháng) và trung vị của thời gian sốngthêm toàn bộ là 23,5 tháng (95% CI, từ 13,5 tháng đến chưa thống kê). Các tác dụng phụ liên quan đến điều trị xuất hiện trên 151 bệnh nhân (64,8%). Ba mươi bốn bệnh nhân (14,6%) có các tác dụng phụ liên quan đến điều trị  độ 3 đến 5. Có một bệnh nhân bị viêm phổi độ 5; không có tác dụng phụ gây tử vong liên quan đến điều trị.

 

Hoạt động ức chế khối u đối với từng loại ung thư

1

Ghi chú: Hiệu suất phân tích bao gồm toàn bộ bệnh nhân được điều trị ít nhất 1 liều pembrolizumab. Chỉ những bệnh nhân có đáp ứng mới được ghi nhận kết quả. Các đáp ứng được đánh giá theo tiêu chí RECIST phiên bản 1.1, được đánh giá bởi trung tâm hình ảnh phóng xạ độc lập.

2 

PHẦN KẾT LUẬN

Nghiên cứu của chúng tôi chứng minh lợi ích lâm sàng của liệu pháp kháng PD-1 sử dụng pembrolizumab trong số những bệnh nhân bị ung thư không phải đại trực tràng có MSI-H/dMMR không thể phẫu thuật được hoặc bệnh di căn đã được điều trị trước đây. Độc tính vẫn giữ nguyên so với những nghiên cứu trước đây về đơn trị liệu pembrolizumab.

 

Nguồn: Efficacy of Pembrolizumab in Patients With Noncolorectal High Microsatellite
Instability/Mismatch Repair–Deficient Cancer: Results From the Phase II KEYNOTE-158 Study
Báo: Journal of Clinical Oncology


ungthubachmai.vn

 

 

 

CN. Nguyễn Thị Thu Giang (lược dịch)

Đơn vị Gen – Tế bào gốc,

Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu, Bệnh viện Bạch Mai

 bladder

Liệu pháp miễn dịch với các thuốc ức chế PD-1 và PD-L1 đã trở thành tiêu chuẩn điều trị cho những bệnh nhân ung thư biểu mô đường niệu giai đoạn tiến xa đã tiến triển hoặc không đủ điều kiện để điều trị hóa trị phác đồ có cisplatin. Sự hiệu quả của các thuốc này trên những bệnh nhân di căn đã làm tiền đề cho nghiên cứu ở những giai đoạn sớm hơn của bệnh. Tiêu chuẩn điều trị hiện nay của ung thư bàng quang xâm lấn cơ (Muscle-invasive bladder cancer – MIBC) là hóa trị trên nền cisplatin, sau đó cắt bỏ toàn bộ bàng quang (Radical cystectomy – RC). Tuy nhiên, chỉ một tỷ lệ nhỏ bệnh nhân được điều trị hóa trị tân bổ trợ và một nửa số bệnh nhân MIBC không đủ điều kiện hóa trị có cisplatin. Một nghiên cứu phase II nhãn mở, đơn nhóm (PURE-01) đã đánh giá hiệu quả của thuốc ức chế PD-1 pembrolizumab (200 mg mỗi 3 tuần trong 3 chu kì) khi được dùng như liệu pháp tân bổ trợ trước khi cắt bỏ toàn bộ bàng quang trên 50 bệnh nhân ung thư bàng quang xâm lấn cơ.

Tất cả các bệnh nhân đều được hóa trị tân bổ trợ pembrolizumab trước khi phẫu thuật cắt bỏ bàng quang. 21 bệnh nhân (42%) đáp ứng hoàn toàn (pT0), 6 bệnh nhân còn khối u (pTa, pTis, hoặc pT1), nghĩa là 27 (54%) bệnh nhân có đáp ứng đạt pT<2 và giảm giai đoạn xuống không xâm lấn cơ. Các phân tích chỉ điểm sinh học đã tìm thấy mối liên quan giữa biểu hiện PD-L1, mức độ đột biến khối u (tumor mutation burden - TMB) và biểu hiện gen với mức độ đáp ứng đạt pT0. Bệnh nhân có tỉ lệ dương tính kết hợp PD-L1 (PD-L1 combined positive score – CPS PD-L1) ≥10% có nhiều khả năng đạt được pT0 hơn so với bệnh nhân có CPS PD-L1<10% (54,3% so với 13,3%).TMB ≥15 đột biến/ Mb cũng liên quan đáng kể với việc tăng tỷ lệ pT0 (p=0,22). Bệnh nhân đạt pT0 có biểu hiện gen cao hơn liên quan đáng kể với tín hiệu gamma interferon, sự hiện diện kháng nguyên, sự biệt hóa tế bào T, các chemokine cùng các thụ thể, các thụ thể ức chế cùng các phối tử và IDO1.

Phản ứng có hại (adverse event – AE) thường gặp nhất (ở tất cả các mức độ) là rối loạn chức năng tuyến giáp (18%). AE độ 3 xảy ra ở 3 bệnh nhân (6%) trong đó có 1 bệnh nhân ngừng điều trị với pembrolizumab do tăng men gan độ 3. Các biến chứng sau phẫu thuật được như mong đợi dù có một số bệnh nhân bị các AE liên quan đến miễn dịch chậm, bao gồm sốt (6%), ngứa (6%) và khô miệng (4%).

Các nhà nghiên cứu kết luận rằng pembrolizumab là liệu pháp tân bổ trợ an toàn khi sử dụng trên bệnh nhân ung thư bàng quang xâm lấn cơ với tỷ lệ pT0 ấn tượng, đặc biệt trên những bệnh nhân PD-L1 dương tính và những bệnh nhân có tỉ lệ TMB ≥15 đột biến/Mb. Khi các nghiên cứu trong tương lai đánh giá pembrolizumab theo kiểu ngẫu nhiên được chứng minh, các tác giả đã tuyên bố rằng tân bổ trợ pembrolizumab nên được lựa chọn để điều trị cho những bệnh nhân không đủ điều kiện điều trị hóa trị phác đồ có cisplatin nhưng có biểu hiện PD-L1 hoặc TMB cao. 

Nguồn: Theo J Clin Oncol. 2018 Oct 20

Ungthubachmai.vn

CN. Lê Thị Bích Ngọc

Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu - Bệnh viện Bạch Mai

Hiện nay theo hướng dẫn của Mạng lưới ung thư quốc gia Hoa Kì (NCCN), liệu pháp toàn thân tiêu chuẩn dùng để chăm sóc đố ivới bệnh nhân ung thư buồng trứng thể thanh dịch mức độ nặng (high-grade serousovarian cancer: HGSOC) mới được chẩn đoán sau khi thực hiện xét nghiệp BRCA là:

-     Với bệnh nhân có đột biến BRCA: sử dụng Carboplatin và Paclitaxel truyền tĩnh mạch trong 6 chu kỳ mỗi chu kỳ 3 tuần, có thể kết hợp với Olaparib:

+   Sử dụng Olaparib đường uống trong 2 năm hoặc cho tới khi bệnh tiến triển (đối với những bệnh nhân có đáp ứng hoàn toàn hoặc đáp ứng một phần);

+   Giám sát (nếu không phù hợp với Olaparib).

-     Với bệnh nhân không có đột biến BRCA: sử dụng Carboplatin và Paclitaxel truyền tĩnh mạch trong 6 chu kỳ mỗi chu kỳ 3 tuần, có thể kết hợp với Bevacizumab

+  Duy trì Bevacizumab tối đa 15 tháng hoặc cho tới khi bệnh tiến triển;

+  Giám sát (nếu không phù hợp với Bevacizumab).

Hiện có khá nhiều các nghiên cứu về vai tròcủa thuốc ức chế PARP trong ung thư buồng trứng tiến triển mới được chẩn đoán đã được thực hiện để tìm ra hướng điều trị mới cho căn bệnh này.

1. Nghiên cứu PRIMA của González-Martín A và cộng sự.

Nghiên cứu được thực hiện trên 733 bệnh nhân ung thư buồng trứng mới được chẩn đoán có nguy cơ tái phát cao sau khi đáp ứng với hóa trị liệu có Platium bước 1 sẽ được chia thành 2 nhóm và sử dụng Niraparib hoặc giả dược.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, đối với nhóm có thiếu hụt tái tổ hợp tương đồng (HomologousRecombination Deficiency: HDR), Niraparib làm giảm 57% nguy cơ tái phát hoặc tử vong, thời gian sống bệnh không tiến triển (PFS) trung bình ở nhóm Niraparib là 21,9 tháng so với 10,4 tháng ở nhóm dùng giả dược, cao hơn 11,5 tháng. Tỉ lệ bệnh nhân không có bệnh tiến triển hoặc tử vong ở nhóm dùng Niraparib cũng cao hơn ở nhóm dùng giả dược.

Ở nhóm dân số nói chung, Niraparib cũng làm giảm 38% nguy cơ tái phát hoặc tử vong, thời gian sống bệnh không tiến triển là 13,8 tháng, cao hơn 5,6 tháng so với nhóm dùng giả dược.

Ở các phân nhóm dấu ấn sinh học BRCA và thiếu hụt tái tổ hợp tương đồng cũng cho thấy thời gian sống bệnh không tiến triển trong tất cả các phân nhóm dấu ấn sinh học được phân tích bất kể trạng thái BRCA và thiếu hụt tái tổ hợp tương đồng đều có kết quả nghiêng về phía sử dụng Niraparib.

2. Nghiên cứu VELIA của Coleman và cộng sự.

Nghiên cứu được thực hiện trên 1.140 bệnh nhân ung thư buồng trứng thể thanh dịch giai đoạn III hoặc IV theo hệ thống FIGO, không có di căn não và chưa được điều trị liệu pháp toàn thân trước đó.Các bệnh nhân được chia vào 3 nhóm, nhóm 1 sử dụng Veliparib suốt liệu trình và 2 nhóm chứng là nhóm 2 chỉ sử dụng Veliparib ở giai đoạn đầu, giai đoạn sau dùng giả dược, nhóm 3 chỉ sử dụng giả dược.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, ở quần thể có đột biến BRCA, thời gian sống bệnh không tiến triển ở nhóm 1 sử dụng Veliparib suốt liệu trình là 34,7 tháng so với 22 tháng ở nhóm chứng, cao hơn 12,7 tháng.Ở quần thể có thiếu hụt tái tổ hợp tương đồng cũng cho thấy sử dụng Veliparib suốt liệu trình có thời gian sống bệnh không tiến triển cao hơn 11,4 tháng so với nhóm chứng.

3. Nghiên cứu PAOLA-1 của Ray-Coquard I và cộng sự.

Bệnh nhân mới được chẩn đoán ung thư phúc mạc nguyên phát, ung thư ống dẫn trứng, ung thư nội mạc tử cung, ung thư buồng trứng thể thanh dịch giai đoạn III-IV theo hệ thống FIGO sau khi được điều trị bước đầu bằng phẫu thuật, hóa trị dựa trên platinum-taxane và trên 3 chu kì bevacizumab sẽ được chia thành 2 nhóm. Nhóm 1 được điều trị tiếp bằng Olaparib kết hợp với Bevacizumab. Nhóm 2 được điều trị bằng giả dược kết hợp với Bevacizumab.

Kết quả cho thấy, đối với quần thể có thiếu hụt tái tổ hợp tương đồng dương tính, thời gian sống bệnh không tiến triển của nhóm 1 điều trị bằng Olaparib kết hợp với Bevacizumab cao hơn hẳn nhóm 2 chỉ sử dụng giả dược kết hợp với Bevacizumab. Tuy nhiên, ở quần thể có thiếu hụt tái tổ hợp tương đồng âm tính, không có sự khác biệt về thời gian sống bệnh không tiến triển giữa 2 nhóm.

Như vậy, việc điều trị và quản lý bệnh nhân ung thư buồng trứng thể thanh dịch mức độ nặng đang có những thay đổi nhanh chóng. Các chất ức chế PARP có khả năng dung nạp chấp nhận được và có hiệu quả trong điều trị bước đầu, bất kể trạng thái BRCA cũng như thiếu hụt tái tổ hợp tương đồng , như đã được chứng minh bằng nhiều thử nghiệm giai đoạn 3. Tuy nhiên, việc xét nghiệm thiếu hụt tái tổ hợp tương đồng sẽ có ích trong việc lựa chọn bệnh nhân, những đối tượng đáp ứng tốt nhất với các thuốc ức chế PARP trong lựa chọn điều trị bước đầu.

 

Bài viết được lược dịch từ bài “The Evolving Role of PARP Inhibitors in Newly DiagnosedAdvanced Ovarian Cancer” của Bradley J. Monk, MD được đăng trên Medscape Education ngày 11 tháng 12 năm 2019.


CN. Võ Thị Thúy Quỳnh (tổng hợp và dịch)

ĐV Gen – Tế bào gốc, Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu, Bệnh viện Bạch Mai

Page 1 of 3

Tem dan Don vi Gen tri lieu 1

logo bach mai 2

Tiêu điểm

Hỗ trợ  

Joomla Templates and Joomla Extensions by ZooTemplate.Com
Hotline: 1900575758 phím 2

Clip

Đối tác chiến lược

chung cư imperia garden

Quảng cáo

Banner

Hình ảnh tiêu biểu

Đối tác chiến lược

chung cư imperia garden

Thống kê

Members : 7854
Content : 1268
Web Links : 3
Content View Hits : 358429