Ung thư

Ung thư phổi là mối đe dọa phổ biến khi điều kiện môi trường ngày càng xấu. Tuy nhiên, điều nguy hiểm là ít người nhận biết được nó.

Căn bệnh ung thư phổi là chứng ung thư gây tử vong lớn nhất ở Mỹ hiện nay và đặc biệt là có tới 20% người chưa từng hút thuốc lá bị mắc bệnh này.

Nguyên nhân dẫn tới ung thư phổi, ngoài hút thuốc, tiếp xúc với khí radon (một loại khí gas không mùi thường có trong nhà), còn có những nguyên nhân khác như ô nhiễm môi trường, ngửi khói gián tiếp, hít phải các loại khí độc… Do đó, ung thư phổi không loại trừ một ai.

Dưới đây là một số dấu hiệu liên quan đến căn bệnh ung thư phổi mà bạn cần chú ý:

1. Ho kéo dài: Phần lớn bệnh nhân ung thư phổi bị ho, đôi khi ho ra máu. Đờm đặc, có màu xám cũng là một dấu hiệu sớm cảnh báo ung thư phổi. Bạn hãy đến bệnh viện kiểm tra sức khỏe khi bị ho khan kéo dài cả tháng liền không giảm.

nhung dau hieu khong ngo cua benh ung thu phoi - 1

2. Nhiễm trùng mãn tính: Đôi khi bạn nhiễm bệnh phổi như viêm phế quản mãn tính. Tuy nhiên, nếu bạn liên tục bị bệnh và hầu hết mọi căn bệnh đều liên quan đến phổi, ngực, đây có thể là dấu hiệu của ung thư.

3. Giảm cân: Giảm cân không có lý do là dấu hiệu rất nguy hiểm vì đây có thể là dấu hiệu của ung thư.

Một khối u phát triển có thể tạo ra protein khiến cơ thể giảm cân. Dấu hiệu kèm theo có thể là mất cảm giác thèm ăn.

4. Đau xương: Nếu ung thư phổi lây lan sang các nội tạng khác, bạn có thể cảm thấy đau nhức sâu trong xương hoặc khớp. Lưng và hông thường là điểm bị nhức nhiều nhất, dù đây cũng có thể là dấu hiệu thiếu vitamin D.

5. Sưng mặt: Nếu khối u bắt đầu đè lên tĩnh mạch chủ chuyển máu từ đầu và tay tới tim, bạn có thể bị sưng ở cổ và mặt. Cánh tay, ngực trên cũng bị ảnh hưởng.

6. Mệt mỏi quá mức: Cảm giác này khác với mệt mỏi thông thường, mệt mỏi kiểu này khiến bạn không thể bước đi và dù nghỉ ngơi nhiều cũng không khỏe hơn. 80% người bị ung thư đều cảm thấy dấu hiệu "mệt mỏi cực độ" này.

7. Cơ bắp yếu: Ung thư phổi cũng ảnh hưởng tới cơ bắp. Một trong những vùng bị ảnh hưởng đầu tiên là hông. Bạn có thể cảm thấy khó nhấc mình lên khỏi ghế. Các vùng khác cũng cần chú ý là vai, cánh tay, chân…

8. Mức canxi cao: Một số loại ung thư phổi tạo ra chất tương tự như hormone làm rối loạn cân bằng khoáng chất trong cơ thể. Do đó, lượng canxi quá mức sẽ bị thải vào máu. Bạn có thể nhận ra dấu hiệu này bằng các triệu chứng: Đi tiểu nhiều, khát nước, táo bón, buồn nôn, đau bụng, chóng mặt.

http://eva.vn/suc-khoe

Đa số đàn ông cho rằng phẫu thuật ung thư tuyến tiền liệt sẽ kết thúc đời sống tình dục và phải điều trị ngay khi phát hiện bệnh.

Dưới đây là một số lầm tưởng thường gặp về căn bệnh ung thư này ở đàn ông, theo WebMd.

Phẫu thuật ung thư tuyến tiền liệt nghĩa là kết thúc đời sống tình dục và gây rò rỉ nước tiểu

Thực tế: Bác sĩ phẫu thuật sẽ có cách không tác động đến các dây thần kinh giúp duy trì quá trình cương. Quan hệ tình dục vẫn diễn ra tốt đẹp sau mổ, song cần 4-24 tháng hoặc lâu hơn để phục hồi. Nam giới trẻ tuổi có thời gian lành sớm hơn. Nếu vẫn gặp khó khăn, hãy hỏi bác sĩ về các biện pháp điều trị rối loạn chức năng cương.

Các phương pháp điều trị ung thư tuyến tiền liệt khác như bức xạ và liệu pháp hormone có thể ảnh hưởng đến đời sống tình dục. Trao đổi kỹ với bác sĩ để có sự lựa chọn phù hợp.

Bạn có thể bị rò rỉ nước tiểu sau khi phẫu thuật nhưng thường là ngắn hạn. Trong vòng một năm, khoảng 95% nam giới có thể kiểm soát bàng quang bình thường như trước mổ.

5-lam-tuong-thuong-gap-ve-ung-thu-tuyen-tien-liet

Ảnh minh họa: UPI.

Chỉ đàn ông lớn tuổi mới mắc bệnh ung thư tuyến tiền liệt

Thực tế: Khá hiếm nam giới dưới 40 mắc bệnh nhưng không có nghĩa là không xảy ra. Tuổi tác không phải là điều duy nhất. Các yếu tố nguy cơ bao gồm:

- Tiền sử gia đình: Nếu cha hoặc anh trai bị bệnh, bạn có khả năng mắc gấp 2-3 lần bình thường. Càng nhiều người thân gặp phải bệnh này, nguy cơ của bạn càng cao.

- Chủng tộc: Đàn ông Mỹ gốc Phi có nhiều khả năng mắc bệnh hơn. Các nhà khoa học vẫn chưa lý giải được điều này. 

Phải điều trị ngay lập tức khi phát hiện bệnh

Thực tế: Bạn và bác sĩ sẽ cùng kiểm tra, bàn bạc để quyết định thời điểm điều trị. Liệu trình có thể phụ thuộc vào giai đoạn bệnh, các bệnh lý khác. Nếu điều trị không làm tốt hơn tình trạng sức khỏe, bác sĩ có thể cân nhắc "giám sát chủ động" và có quyết định phù hợp khi cần thiết.

Mức PSA cao có nghĩa là bạn bị ung thư tuyến tiền liệt

Thực tế: Không nhất thiết. Các bệnh khác ở tuyến tiền liệt có thể làm tăng mức PSA (kháng nguyên đặc hiệu của tuyến tiền liệt). Nồng độ PSA cao là gợi ý giúp bác sĩ quyết định cân nhắc làm thêm các xét nghiệm khác để kiểm tra ung thư tuyến tiền liệt. Nếu mức PSA đi xuống sau khi điều trị ung thư, đó là điều tuyệt vời. 

Nếu bị ung thư tuyến tiền liệt, bạn chắc chắn chết vì nó

Thực tế: Nếu kiểm soát bệnh tốt, bạn có khả năng sống đến già hoặc sẽ chết vì một số nguyên nhân khác. Tuy nhiên điều này không có nghĩa việc kiểm tra ung thư tuyến tiền liệt không quan trọng. Phát hiện sớm bệnh rất quan trọng để tăng hiệu quả điều trị.

 Lê Phương

Khi nhận kết quả Ung thư dạ dày, ít người biết rằng mặc dù kết quả cùng như vậy nhưng tỷ lệ sống của các bệnh nhân rất khác nhau phụ thuộc vào giai đoạn của bệnh, sức khỏe chung của bệnh nhân, tinh thần và khả năng chăm sóc y tế. Như vậy, không có một công thức chung để có thể nói bị Ung thư dạ dày có thể sống được bao lâu? Tuy nhiên, có một số thống kê, giúp chúng ta có thể ước lượng được điều đó.

Bị ung thư dạ dày có thể sống được bao lâu? 1

80% bệnh nhân Ung thư dạ dày có vi khuẩn Hp trong người

Ung thư dạ dày 

Bệnh Ung thư dạ dày tiến triển thầm lặng qua nhiều giai đoạn từ khi hình hình các tế bào tiền Ung thư (trong viêm teo niêm mạc dạ dày) cho tới khi Ung thư di căn. Bệnh Ung thư có thể chữa khỏi hoàn toàn, sau đó bệnh nhân trở lại với cuộc sống bình thường. Đó là sự thật, tuy nhiên chỉ đúng với những bệnh nhân may mắn phát hiện được Ung thư dạ dày ở giai đoạn đầu. Với những bệnh nhân được phát hiện muộn, ở giai đoạn cuối thì tỷ lệ sống sót trong 5 năm là rất thấp, thậm chí tỷ lệ sống sót trên 1 năm cũng không cao.

Tuy nhiên, cho tới hiện nay, chưa có một phương pháp chẩn đoán nào thực sự đủ mức độ tin cậy để chẩn đoán Ung thư dạ dày sớm. Phương pháp xét nghiệm máu được cho là chính xác nhưng vẫn cần có nhiều xét nghiệm khác để khẳng định chắc chắn Ung thư dạ dày. Hơn nữa, khả năng tầm soát Ung thư cũng như thăm khám sức khỏe định kỳ của Việt Nam không được tốt cho nên tỷ lệ tử vong do Ung thư dạ dày trong vòng 5 năm rất cao, tới 80%, tỷ lệ đó ở Mỹ là trên 50%.

Bị ung thư dạ dày có thể sống được bao lâu?

Bị ung thư dạ dày có thể sống được bao lâu? 1

Triệu chứng ung thư dạ dày giai đoạn đầu thường bị nhầm lẫn với chứng đau dạ dày thông thường nên đến khi bệnh chuyển biến sang giai đoạn cuối mới phát hiện ra bệnh. Tuy nhiên đa số tâm lý của gia đình các bệnh nhân bị ung thư dạ dày giai đoạn cuối thường dấu và không nói rõ tình trạng bệnh cũng như sự nguy hiểm của bệnh cho người bị bệnh biết. Điều này hết sức bình thường không chỉ với bệnh Ung thư dạ dày mà ngay cả những căn bệnh nguy hiểm khác cũng vậy.

Họ sợ ảnh hưởng đến tâm lý của người bệnh, khiến sức khỏe người bệnh sẽ một xấu đi. Bởi vì tinh thần của người bệnh chính là vị thuốc điều trị tốt nhất. Tuy nhiên trên thực tế theo kinh nghiệm của các bác sĩ cho biết thì nếu cho bệnh nhân biết rõ tình trạng bệnh cũng như các nguy hiểm có thể gặp phải thì thông thường các bệnh nhân sẽ hợp tác tốt hơn trong việc điều trị bệnh, đôi khi còn lạc quan và bớt lo âu hơn. Khi đó khát vọng sống của bệnh nhân sẽ mãnh liệt hơn và ít thờ ơ hơn vì cho rằng chưa đến lúc nguy hiểm, chưa đến lúc phải điều trị.

Trong rất nhiều năm điều trị cho bệnh nhân ung thư, điều chúng tôi dễ dàng nhận thấy nhất đó là những bệnh nhân có khát vọng sống mãnh liệt, ý chí chiến đấu cao và lạc quan thường có nhiều cơ hội khỏi bệnh hơn. Và tất nhiên, tất cả họ đều là những người hiểu rõ bệnh tình của mình chứ không hề bị giấu giếm bất cứ điều gì.

Câu hỏi “Ung thư dạ dày giai đoạn cuối sống được bao lâu?”, theo các bác sĩ tại đây thì câu hỏi này họ được nghe quá nhiều từ người bệnh nên cũng trả lời thằng thắn là có thể sống được 1-2 năm, 3 năm hoặc đôi khi hơn. Tùy từng trường hợp và quyết tâm, khát khao sống mãnh liệt, sự hợp tác điều trị cũng như điều kiện của mỗi người.

Ung thư dạ dày giai đoạn cuối sống được bao lâu: Thông thường, tiên lượng bệnh ung thư dạ dày phụ thuộc vào nhiều yếu tố và giai đoạn bệnh. Ở những giai đoạn đầu tỷ lệ sống thường cao hơn nhờ phẫu thuật, những giai đoạn sau không thể phẫu thuật thì mục tiêu chữa bệnh là kéo dài thời gian sống và lúc này phụ thuộc nhiều vào phương pháp điều trị và sức khỏe người bệnh để dự đoán thời gian còn lại cho người bệnh. Có một điều chắc chắn rằng nếu Ung thư dạ dày không được điều trị thì tỷ lệ tử vong trong vòng 5 năm là 98%.

Tầm soát bệnh định kỳ giúp phát hiện sớm Ung thư dạ dày, gia tăng cơ hội chữa khỏi. Để phòng tránh ung thư dạ dày, bạn nên ăn nhiều trái cây và rau, giảm ăn các thực phẩm hun khói và muối, ngừng hút thuốc lá. Đặc biệt cần hiểu rõ tiền sử bệnh của bản thân và những người thân trong gia đình. Nếu gia đình bạn có người mắc Ung thư dạ dày thì nguy cơ của bạn cao hơn, hoặc nếu bạn từng phát hiện bị nhiễm khuẩn Helicobacter pylori trong dạ dày và có bệnh dạ dày như Viêm dạ dày tá tràng mạn tính, Loét dạ dày tá tràng thì điều trị dứt điểm bệnh và phòng ngừa tái phát bệnh là rất cần thiết.

Theo Gastimunhp.vn tổng hợp

Các chất độc hại đang tồn tại trong thực phẩm chính là thủ phạm gây ra nhiều căn bệnh ung thư.

Tiến sĩ Nguyễn Văn Hiếu, Bộ môn Ung thư, Đại học Y Hà Nội, cho biết mối liên quan giữa dinh dưỡng và ung thư được thể hiện ở hai khía cạnh chính. Trước hết là sự có mặt của các chất gây ung thư có trong các thực phẩm, thức ăn, đồ uống. Vấn đề thứ hai là sự hiện diện của các chất đóng vai trò làm giảm nguy cơ gây ung thư (vitamin, chất xơ…).

Nhung chat gay ung thu co trong thuc pham ban an hang ngay hinh anh 1

Việc nướng trực tiếp thịt ở nhiệt độ cao có thể tạo ra một số sản phẩm có khả năng đột biến gen như dioxin, hydro-cacbon thơm đa vòng. Ảnh: Shapeupyourhealth .

Theo chuyên gia này, các chất gây ung thư có trong thực phẩm bao gồm ít nhất 5 nhóm sau:

Nitrosamin

 Nitrosamine và các hợp chất N-nitroso khác, là những chất gây ung thư thực nghiệm trên động vật. Những chất này thường có mặt trong thực phẩm với một lượng nhỏ.

Các chất nitrit và nitrat thường có tự nhiên trong các chất bảo quản thịt, cá và thực phẩm được chế biến, trong dưa cà khú, hỏng. Tiêu thụ nhiều thức ăn có chứa nitrit và nitrat có thể gây ra ung thư thực quản, dạ dày.

Các loại thực phẩm ướp muối, hay ngâm muối như cá muối, có hàm lượng nitrosamine cao. Các nước thuộc khu vực Đông Nam Á thường tiêu thụ loại thực phẩm này có liên quan đến ung thư vòm mũi họng.

Aflatoxin

 Aflatoxin sinh ra từ nấm mốc Aspergillus flavus. Loại nấm mốc này thường có trong các ngũ cốc bị mốc hoặc là lạc mốc. Việc tiêu thụ các thực phẩm này là một nguyên nhân gây bệnh ung thư gan.

Chất phụ gia và các chất gây nhiễm khác có trong thực phẩm

Các nhà khoa học phương Tây cho thấy sử dụng một số phẩm nhuộm thực phẩm có thể gây ra ung thư, như chất paradimethyl amino benzene dùng để nhuộm bơ thành “bơ vàng” có khả năng gây ung thư gan.

Do đó, bạn không nên mua các thức ăn có màu sắc sặc sỡ hoặc nghi ngờ có sử dụng phẩm màu không cho phép. Nên dùng các màu sắc tự nhiên trong chế biến thức ăn như màu đỏ của cà chua, gấc, màu vàng của nghệ.

Các thực phẩm có chứa các dư lượng, tàn tích của các thuốc trừ sâu, không chỉ gây ngộ độc cấp tính mà còn khả năng gây ung thư.

Các chất độc tạo ra trong quá trình nấu nướng và bảo quản thực phẩm

Một số cách nấu thức ăn và bảo quản thực phẩm có thể sẽ tạo ra chất gây ung thư. Những thức ăn hun khói có thể bị nhiễm benzopyren, một chất gây ung thư. Việc nướng trực tiếp thịt ở nhiệt độ cao có thể tạo ra một số sản phẩm có khả năng đột biến gen như dioxin, hydro-cacbon thơm đa vòng…

Chất béo và thịt

Các nghiên cứu trên thế giới đã cho thấy có mối liên quan giữa bệnh ung thư đại trực tràng với chế độ ăn nhiều mỡ, thịt động vật. Chế độ ăn nhiều mỡ, thịt gây ung thư qua cơ chế làm tiết nhiều axit mật, chất ức chế quá trình biệt hóa của các tế bào niêm mạc ruột. Tỷ lệ tử vong do mắc ung thư vú cũng tăng theo mức tiêu thụ mỡ.

Như vậy, ăn uống có liên quan chặt chẽ với bệnh ung thư. Việc đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng chống nhiễm các hóa chất gây ung thư trong thức ăn, thực hiện chế độ ăn cân đối hợp lý, không chỉ là biện pháp dự phòng bệnh ung thư mà còn có thể phòng chống được nhiều bệnh khác.

Hà Quyên

TTO - Bệnh ung thư không những ảnh hưởng về mặt sức khỏe thể chất mà còn gây nên những tác động to lớn về mặt tâm thần, theo một báo cáo khoa học vừa được trình bày tại hội nghị chuyên ngành ung thư. 

Theo đó, cứ 5 người thì có đến 4 người bị rối loạn lo âu và trở nên trầm cảm sau một năm được điều trị.

Phân tích của các nhà khoa học tại Trung tâm Nghiên cứu lâm sàng quốc gia Malaysia trên 1.362 người bệnh đã mở ra lời kêu gọi khẩn trương tìm kiếm những phương thức mới hỗ trợ điều trị ung thư để giải quyết một cách rộng hơn các khía cạnh sức khỏe, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người ung thư, đặc biệt là các khía cạnh tâm lý, tài chính và xã hội.

Nghiên cứu cũng lưu ý rằng ở những người bệnh trẻ tuổi, mức độ ảnh hưởng còn lớn hơn do đối với nhóm đối tượng này ít ngờ rằng họ bị ung thư. Và khi họ bị mắc bệnh, tâm lý sẽ suy sụp nhanh hơn, sự lo âu sẽ lớn hơn và dẫn đến khả năng tự tử sẽ cao hơn.

Vì vậy, những can thiệp sớm về mặt tâm lý nên được nâng cao hơn ở nhóm người này.

 
BS NGUYỄN TẤT BÌNH (Theo Medical Xpress)
 

Đồ nướng, đồ ăn nhanh làm tăng nguy cơ ung thư đại trực tràng và dạ dày; ăn cá, tỏi giúp giảm nguy cơ ung thư đại trực tràng. 

Trong các bệnh ung thư phổ biến trên thế giới, ung thư phổi chiếm đến 13%, sau đó là ung thư vú 12%, ung thư đại tràng 8%... Tại Việt Nam, số ca ung thư phổi cũng cao nhất, sau đó đến ung thư vú, dạ dày, gan, đại tràng. "Có thể nói xu hướng mắc ung thư của nước ta cũng trùng với xu hướng chung của thế giới", phó giáo sư Lê Thị Hương, Viện trưởng Viện Y học dự phòng cho biết tại hội thảo về thải độc cơ thể phòng ung thư diễn ra tại Hà Nội ngày 13/12.

Bên cạnh thuốc lá, rượu bia, thì dinh dưỡng - thức ăn đưa vào cơ thể có thể gây nhiều bệnh ung thư. Nguy cơ này đến từ thực phẩm bị ô nhiễm tồn dư hóa chất bảo vệ thực vật, thuốc trừ sâu diệt cỏ, chất tăng trọng được đưa vào cơ thể vật nuôi; cơ thể vô tình tích lũy các chất độc đó.

ngua-ung-thu-bang-cach-kiem-soat-thuc-phm-an-vao-co-the

Một số thực phẩm có tác dụng ngừa ung thư. Ảnh: NBC.

Giáo sư Nguyễn Bá Đức, nguyên Giám đốc Bệnh viện K cho biết, ung thư đang là vấn đề bức bối của toàn thế giới. Trong các nguyên nhân gây ung thư thì có đến 35% do thực phẩm chưa an toàn, "bệnh từ miệng vào". 

Theo ông, phòng bệnh hơn chữa bệnh, điều này càng đúng với bệnh ung thư. Những yếu tố nguy cơ có thể phòng ngừa như thay đổi lối sống bao gồm bỏ thuốc, hạn chế rượu bia, tập thể dục đều đặn, ăn uống lành mạnh. Ngoài ra, một khái niệm mới được đưa ra gần đây là thải độc cơ thể ngừa bệnh, trong đó có ung thư. "Áp dụng các phương pháp thanh lọc cơ thể như uống nước, nhịn ăn, uống nước chanh…, không nên thái quá. Uống quá nhiều nước chanh không tốt với người bệnh dạ dày; hay nhịn ăn đến mức cơ thể suy kiệt nhập viện", giáo sư Đức nhấn mạnh.

Theo các chuyên gia, bản thân cơ thể có cơ chế tự thải độc. Nhiệm vụ của gan là loại bỏ các độc tố ra khỏi cơ thể; tập thể dục, uống nước nhiều cũng hỗ trợ quá trình thải độc. Tuy nhiên, không phải lúc nào gan cũng hoạt động tốt, thậm chí có những chất độc gan không thể loại bỏ được. Vì thế quan trọng nhất là hạn chế đưa chất độc vào cơ thể. 

Dưới đây là một số lời khuyên dinh dưỡng phòng ung thư:

Thực phẩm giảm nguy cơ ung thư:

Yếu tố dinh dưỡng

Ung thư

Chất xơ Đại trực tràng, thực quản
Rau củ quả Khoang miệng, thực quản, phổi, dạ dày, đại trực tràng
Canxi Đại trực tràng
Chế độ ăn hằng ngày Đại trực tràng
Đại trực tràng
Tỏi Đại trực tràng
Selen Phổi, đại trực tràng, tiền liệt tuyến
Folate Thực quản, tụy, đại trực tràng

Thực phẩm tăng nguy cơ ung thư:

Yếu tố dinh dưỡng

Ung thư

Rượu, bia Khoang miệng, thực quản, gan, đại trực tràng, vú
Chế độ ăn mặn Dạ dày, mũi họng
Thịt đỏ Đại trực tràng
Aflatoxin Gan
Đồ nướng, đồ ăn nhanh Đại trực tràng, dạ dày
Thừa cân,béo phì Thực quản, tiền liệt tuyến, đại trực tràng, vú, nội mạc tử cung

Phương Trang

Béo phì không chỉ gây ra các bệnh về tim mạch và tiểu đường đâu, nguy cơ ung thư của những người béo cũng gia tăng gấp nhiều lần đó.

Có tới 9% các trường hợp mắc ung thư do nguyên nhân liên quan đến cân nặng. So với người bình thường, những người béo phì, có cân nặng quá lớn thường phải đối mặt với nguy cơ ung thư cao hơn khá nhiều. Dưới đây là những căn bệnh ung thư mà người béo rất dễ mắc phải:

1. Ung thư dạ dày, thực quản

Ở người béo, mỡ thừa nhiều sẽ làm tăng cao nguy cơ viêm nhiễm mãn tính, nhất là ở đường ruột, khiến axit dạ dày bị kích thích và dẫn tới ung thư. Khoa học cũng đã chứng mình mối liên hệ mật thiết giữa béo phì với ung thư thực quản.

2. Ung thư gan

Khả năng tác động đến gan của tình trạng béo phì ngang ngửa việc uống rượu. Béo phì cũng nguy hiểm như uống rượu bởi nó dẫn tới gan nhiễm mỡ, xơ gan và về lâu dài có thể gây ung thư gan.

Nếu bạn đang quá cân hãy chú ý đề phòng 7 bệnh ung thư này - Ảnh 1.

3. Ung thư tuyến tuỵ

Khi bạn bị béo phì, việc sản xuất insulin bị cản trở, khiến cho quá trình trao đổi chất của tuyến tuỵ bị cản trở, từ đó làm nguy cơ ung thư tăng cao.

4. Ung thư túi mật

Béo phì và tình trạng thừa cholesterol dễ gây sỏi mật, tăng khả năng viêm túi mật. Khả năng ung thư túi mật cũng vì thế mà tăng lên.

Nếu bạn đang quá cân hãy chú ý đề phòng 7 bệnh ung thư này - Ảnh 2.

5. Ung thư buồng trứng

Tế bào chất béo sản xuất estrogen. Ở phụ nữ nặng cân đã hoặc đang bước vào thời mãn kinh, estrogen dư thừa dễ gây ra ung thư vú, ung thư tử cung và ung thư buồng trứng.

6. Ung thư tuyến giáp

Căn bệnh ung thư này rất dễ xảy ra khi thừa cân bởi béo phì khiến cho kích thước tuyến giáp tăng. Khi tuyến giáp càng lớn thì nguy cơ tế bào đột biến lại càng cao, đồng nghĩa với việc khả năng ung thư cao hơn.

7. Đau tủy xương

Những người béo phì thường dễ bị viêm nhiễm hơn và điều này làm tăng chu kỳ làm mới tuỷ xương. Điều này không tốt chút nào bởi nó cũng tạo cơ hội cho đột biến xảy ra, dẫn đến ung thư tuỷ xương.

http://kenh14.vn

Trước kia, người ta cho rằng đường là nguồn năng lượng giúp cho ung thư có thể di căn nhưng có vẻ như chính chất béo mới là thủ phạm.

Việc tìm ra phương pháp điều trị ung thư đã và đang là nhiệm vụ được ưu tiên hàng đầu của y học trong thế kỷ 21. Và có vẻ như công cuộc đấu tranh chống lại căn bệnh này lại có thêm một bước tiến nữa, khi mới đây các chuyên gia đã tìm ra một tác nhân có vai trò thúc đẩy sự phát triển của tế bào ung thư. Đó là chất béo, hay mỡ nói chung.

Trước kia các chuyên gia đã nhận ra một bằng chứng, rằng tế bào ung thư cần đến chất béo phát triển. Còn hiện nay, họ tìm ra thêm bằng chứng rằng chỉ cần ngăn không cho các tế bào ung thư hấp thu chất béo, họ có thể ngăn chặn quá trình di căn của ung thư.

Tìm ra bằng chứng cho thấy ăn nhiều mỡ có thể thúc đẩy ung thư - Ảnh 1.

Mỡ có thể khiến ung thư di căn

Trên thực tế, di căn chính là nguyên nhân chủ yếu khiến người mắc ung thư tử vong. Có điều, khoa học mất rất nhiều năm vẫn chưa thực sự hiểu được tại sao và bằng cách nào tế bào ung thư có thể phát triển với tốc độ vũ bão, trong khi quá trình đó tốn rất nhiều năng lượng: từ phân tách, di chuyển qua mạch máu, rồi bám rễ vào những bộ phận khác trong cơ thể.

Trong quá khứ, y học từng cho rằng đường chính là nguồn cung năng lượng cho quá trình di căn. Nhưng đến đầu năm 2016, một số chuyên gia đặt ra giả thuyết: Có khi nào chất béo mới là tác nhân chính? Và nghiên cứu mới đây được công bố trên tạp chí Nature đã tăng thêm sức nặng cho giả thuyết này.

Đầu tiên, nhóm nghiên cứu xác định các tế bào khiến ung thư miệng trên chuột lây lan, để rồi nhận thấy rằng một số acid béo - bao gồm cả palmitic acid có trong dầu cọ - có thể thúc đẩy quá trình di căn.

Tìm ra bằng chứng cho thấy ăn nhiều mỡ có thể thúc đẩy ung thư - Ảnh 2.

Cụ thể hơn, bên trong các tế bào ung thư của chuột có sự hiện diện của CD36 với nồng độ rất lớn. CD36 là một dạng thụ thể protein có tác dụng giúp tế bào hấp thụ mỡ. Đối với người, cũng từng có một số liên hệ giữa CD36 và các bệnh nhân ung thư.

Vậy nên, các chuyên gia quyết định thử xem nếu CD36 bị nghẽn lại thì chuyện gì sẽ xảy ra. Kết quả, gần như toàn bộ quá trình di căn đã ngừng lại, dù không thể ngăn khối u đầu tiên hình thành. 

Salvador Aznar Benitah - chủ nhiệm nghiên cứu cho biết: "Chúng tôi giả định rằng tế bào di căn chỉ có thể hình thành nếu có một số loại acid béo nhất định. Tuy nhiên, hiện chúng ta vẫn chưa thể hiểu chính xác vì sao khoá CD36 lại có thể ngăn được ung thư di căn"

Tìm ra bằng chứng cho thấy ăn nhiều mỡ có thể thúc đẩy ung thư - Ảnh 3.

Có vẻ như ăn nhiều chất béo sẽ khiến ung thư dễ lan rộng

Ngoài ra, thí nghiệm cũng cho thấy rằng những con chuột có chế độ ăn giàu chất béo sẽ có khối u lớn và lan mạnh hơn so với chuột bình thường.

Tuy nhiên, các chuyên gia cho biết nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở lý thuyết và thử nghiệm trên chuột, nên chưa có gì đảm bảo rằng ở người cũng như vậy. Lúc này, vẫn còn quá sớm để đưa ra bất kỳ lời khuyên nào liên quan đến chế độ ăn ở người, đặc biệt là đối với bệnh nhân ung thư.

"Đây là bước đầu tiên và cũng là bước rất quan trọng. Giờ đây chúng ta có thể xác định được đâu là tế bào chịu trách nhiệm cho việc ung thư di căn, đồng thời đem lại tiềm năng nghiên cứu sâu hơn về ung thư trong tương lai" - Benitah chia sẻ. 

Nguồn: Science Alert

Thuốc tránh thai cho nam giới, thu nhỏ khối u ung thư vú, kháng thể đối với HIV ... chính là những thành tựu y học đáng chú ý trong năm 2016.

Ngành y mỗi năm càng phát triển, cứu sống thêm rất nhiều sinh mạng so với quá khứ. Và năm 2016 có thể gọi là một năm thành công đối với ngành y tế, với những phát minh mới, mở ra hướng chữa trị những căn bệnh mà trước đây gọi là nan y. Sau đây là các thành tựu ấn tượng trong năm qua.

1. Thuốc tránh thai cho nam giới

Khi nghĩ đến các phương pháp tránh thai, người ta thường mặc định nó dành cho nữ. Thời thế đã đổi thay rồi nhé các quý ông! Năm 2016 đã mang thuốc tránh thai dành cho nam giới gần với thực tiễn hơn.

Đây là 5 đột phá y học đáng kể nhất trong năm 2016 vừa qua - Ảnh 1.

Tháng 3 năm 2016, các nhà nghiên cứu ở ĐH Minnesota đã giới thiệu khám phá mới nhất của họ, khi việc biến đổi cấu trúc hóa học của thuốc tránh thai dành cho nam giới được tìm ra trước đây thành một dạng hữu hiệu hơn.

Đây là 5 đột phá y học đáng kể nhất trong năm 2016 vừa qua - Ảnh 2.

Giờ thì bình đẳng rồi nhé các chị em

Thuốc có tác dụng tới 96%. Trong số 320 người tham gia thử nghiệm này, chỉ có 4 cặp đôi có em bé mà thôi.

Tuy nhiên trong một cuộc thử nghiệm lâm sàng được in trên tạp chí Chuyển hóa và Nội tiết, có một tỉ lệ các quý ông tham gia thử nghiệm gặp những tác dụng phụ không mong muốn. Chính vì thế, thuốc hiện vẫn đang trong giai đoạn thử nghiệm, chưa thể đưa vào sử dụng. 

2. Thu nhỏ khối u trong bệnh ung thư vú

Đầu năm 2016, các nhà khoa học phát hiện ra rằng khi kết hợp 2 loại thuốc riêng biệt trong chữa trị ung thư vú là Herceptin và Tyverb, thì khối u trong bệnh ung thư vú dương tính HER2 bỗng thu nhỏ lại chỉ trong 11 ngày.

Kết quả này thậm chí được ghi nhận trên bệnh nhân mắc ung thư vú giai đoạn 2 đã di căn sang các hạch bạch huyết.

Đây là 5 đột phá y học đáng kể nhất trong năm 2016 vừa qua - Ảnh 3.

Nghiên cứu mở ra hi vọng cho các bệnh nhân ung thư vú (dải ruy băng màu hồng là biểu tượng của ung thu vú)

Mặc dù phương thuốc này cho những kết quả rất khả quan, nhưng vẫn rất cần những nghiên cứu thêm trước khi đưa vào sử dụng trong lâm sàng.

3. Vĩnh biệt phương pháp lấy tủy răng đi nhé

Vì các nhà khoa học thuộc ĐH Nottingham và ĐH Harvard đã phát minh ra một chất trám răng giúp cho răng có khả năng tự hồi phục mà không cần phải lấy tủy một cách đau đớn nữa.

Đây là 5 đột phá y học đáng kể nhất trong năm 2016 vừa qua - Ảnh 4.

Không còn đau đớn nữa nhé

Chất này được đưa trực tiếp vào răng sâu. Nó kích thích các tế bào tạo ra ngà răng (chất chính bao phủ bề mặt răng) tự tái sinh. Chất này còn có khả năng ngăn chặn lỗ sâu răng lan rộng ngay từ ban đầu. 

Từ đây về sau, lấy tủy răng không còn là cơn ác mộng đối với tín đồ hảo ngọt mà lười đánh răng nữa rồi.

4. Tìm ra kháng thể HIV

Tháng 4 năm 2016, cuộc chiến chống HIV đã rẽ sang một ngã mới, khi mà các nhà nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu quốc gia Mỹ về các bệnh truyền nhiễm và dị ứng đã tìm ra một kháng thể chống HIV. 

Kháng thể này chỉ cần được tiêm một lần là đã có thể bảo vệ những chú khỉ khỏi dạng virus mô phỏng lại HIV trong tận 6 tháng!

Đây là 5 đột phá y học đáng kể nhất trong năm 2016 vừa qua - Ảnh 5.

Kháng thể đã bảo vệ được khỉ trước HIV trong 6 tháng

Những kháng sinh này đã được chọn dựa trên chính hệ miễn dịch của khỉ tạo ra để chống lại virus HIV.

Trong những năm gần đây, các nhà khoa học đã thu thập và cô lập rất nhiều các loại kháng thể được tạo ra từ những người có HIV. Nghiên cứu ngày đang mở ra hướng mới trong việc tạo ra vaccine phòng bệnh HIV ở người.

5. Cơ thể phụ nữ có thể sản xuất ra trứng mới

Ngay từ lớp 8, trong môn Sinh học, chúng ta đều được học rằng cơ thể của bé gái được sinh ra mang sẵn tất cả các nang trứng mà bé có trong cuộc đời và sẽ không bao giờ sản xuất thêm nữa. Nhưng một nghiên cứu gần đây đã đi ngược lại với những gì được biết.

Mùa thu năm nay, những nhà nghiên cứu đến từ London nhận ra một loại thuốc ung thư tên là ABVD có khả năng kích thích buồng trứng của bệnh nhân nữ sản xuất ra những trứng mới – một việc luôn được coi là bất khả thi.

Đây là 5 đột phá y học đáng kể nhất trong năm 2016 vừa qua - Ảnh 6.

Cơ thể con người vẫn còn là nhiều ẩn số đối với khoa học

Mặc dù phát hiện nghe có vẻ quá tuyệt vời để trở thành sự thật nhưng nó khiến chúng ta phải đặt dấu chấm hỏi về những bí ẩn trong hệ sinh sản của con người. Liệu chúng ta đã hiểu rõ ràng và cặn kẽ hết chưa? Đây là một câu hỏi cần nhiều thời gian và nghiên cứu để có thể giải đáp thỏa đáng.

Nguồn: Medical Daily

 

Virus HPV lây nhiễm qua đường tình dục, quá trình sinh nở, dụng cụ cắt móng tay, kim bấm sinh thiết, đồ lót…

Ung thư cổ tử cung là bệnh ung thư phổ biến thứ hai ở phụ nữ. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), mỗi năm trên thế giới có khoảng 490.000 phụ nữ mắc căn bệnh này, số lượng tử vong lên đến 270.000 người. Riêng tại Việt Nam, ước tính có khoảng 5.300 ca mắc và 2.500 ca tử vong mỗi năm, tương đương với 7 người chết mỗi ngày.

Virus HPV (HumanPapillomaVirus) được xác nhận là nguyên nhân hàng đầu gây ung thư cổ tử cung. Cho đến nay, có hơn 100 chủng HPV được xác định. Tùy vào khả năng gây ung thư hay không, mà người ta chia các chủng HPV ra làm 2 nhóm. Nhóm HPV nguy cơ thấp chỉ gây mụn cóc ở tay chân, mồng gà ở vùng hậu môn, sinh dục, u nhú đường hô hấp hay tăng sản biểu mô khoang miệng. Nhóm HPV nguy cơ cao có khoảng 15 chủng, gây ung thư cổ tử cung và các ung thư khác.

HPV chủ yếu lây truyền qua đường tình dục, kể cả tiếp xúc tay với bộ phận sinh dục hoặc quan hệ tình dục đường miệng. Vị trí HPV xâm nhập và khu trú đầu tiên là vùng thượng bì, chủ yếu ở lớp biểu mô da và niêm mạc ẩm ướt, nhầy. Tỷ lệ lây truyền HPV giữa nam và nữ qua giao hợp trung bình là 40%. Theo số liệu thống kê của Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật Mỹ (CDC), ít nhất 50% dân số có hoạt động tình dục sẽ có nguy cơ cao nhiễm HPV vào một thời điểm nào đó trong đời. 10 năm đầu tiên sau giao hợp, nguy cơ nhiễm HPV là 25%. Trong suốt cuộc đời có thể lên tới 80%.

HPV đề kháng với nhiệt và trong điều kiện khô. Do đó, virus này còn lây truyền không qua đường tình dục như các dụng cụ cắt móng tay chân, kim bấm sinh thiết, đồ lót… Bao cao su không bảo vệ phụ nữ 100% vì HPV có thể lây qua tiếp xúc da ở vùng âm hộ, hậu môn. Đặc biệt, HPV có thể lây truyền dọc từ mẹ sang con trong lúc sinh và gây ra đa bướu gai đường hô hấp.

polyad

Virus HPV (Human papilloma virus) là nguyên nhân hàng đầu gây ung thư cổ tử cung.

Nhóm HPV nguy cơ cao thường không gây biểu hiện lâm sàng rõ ràng trên người bệnh, chỉ có thể phát hiện nhờ vào xét nghiệm tìm HPV. Tính đến thời điểm hiện tại, ngoài việc quan hệ tình dục an toàn, xét nghiệm tế bào cổ tử cung định kỳ để sớm phát hiện dấu hiệu bất thường, thì tiêm phòng đủ 3 mũi vắcxin vẫn là biện pháp hữu hiệu để phòng ngừa ung thư cổ tử cung.

Sau 10 năm theo dõi, vắcxin ngừa HPV được ghi nhận an toàn bởi các cơ quan uy tín của Mỹ, gồm Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật (CDC) và Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (FDA). Qua các thử nghiệm lâm sàng trước khi cấp phép, tiếp tục đánh giá trong quá trình giám sát sau khi cấp phép, vắcxin ngừa HPV được chứng minh có hiệu quả cao.

Các nghiên cứu gần đây của Tạp chí Hiệp hội Y khoa Canada (2016) cũng như một số công trình trước đó tại Australia, Đan Mạch, Iceland, Na Uy, Thụy Điển… cho thấy, tiêm vắcxin ngừa HPV có hiệu quả trong việc giảm các bất thường ở tế bào cổ tử cung, đặc biệt là chống lại các tổn thương dai dẳng có tiềm năng trở thành ung thư sau này.

Hiện ở Việt Nam đang lưu hành 2 loại vắcxin HPV: nhị giá và tứ giá. Vắc xin tứ giá ngừa HPV phòng nhiễm các chủng HPV 6,11,16,18. Các vắcxin này có hiệu quả bảo vệ 99% chống nhiễm virus HPV dai dẳng đường sinh dục; 98% phòng tổn thương tiền ung thư cổ tử cung vừa và nặng gây ra bởi chủng virus HPV 16, 18 (2 chủng gây hơn 70% các trường hợp ung thư cổ tử cung). Ngoài ra, vắcxin còn phòng mụn cóc ở cơ quan sinh dục và ung thư cơ quan sinh dục nam, nữ, hậu môn.

Giáo sư Nguyễn Trần Hiển
Chủ tịch Hội Y học Dự phòng Việt Nam

 

Tại Việt Nam, theo thống kê tỉ lệ mắc ung thư chuẩn theo tuổi là 29,9/10 vạn dân, số ca mắc bệnh là 12.533 ca. Ước tính số ca mới mắc đến năm 2020 là 22.612 ca.

Phần lớn những trường hợp mắc bệnh ung thư tại Việt Nam đều đến bệnh viện khám và điều trị khi bệnh đã tiến triển nặng và đang ở những giai đoạn cuối, tỷ lệ này chiếm khoảng 70%.

Thực tế, nếu được phát hiện và điều trị sớm khả năng điều trị khỏi ung thư là 35%. Bên cạnh việc lựa chọn lối sống, chế độ ăn uống lành mạnh thì việc kiểm tra sức khỏe định kỳ tại các cơ sở y tế sẽ giúp bạn sớm phát hiện ra mầm mống của nhiều căn bệnh và có hướng điều trị khỏi bệnh.


Phụ nữ từ 25 tuổi nên duy trì thói quen khám sức khỏe, làm các xét nghiệm tầm soát ung thư.

Phụ nữ từ 25 tuổi nên duy trì thói quen khám sức khỏe, làm các xét nghiệm tầm soát ung thư

.

PGS.TS Nguyễn Khắc Hiền – Nguyên trưởng khoa Khám bệnh – Bệnh viện Bạch Mai, hiện đang công tác tại Bệnh viện An Việt cho biết: “Việc khám sức khỏe định kỳ trong thời đại hiện nay đang dần trở thành thói quen tích cực của nhiều chị em phụ nữ. Phụ nữ từ 25 tuổi nên duy trì thói quen khám sức khỏe, làm các xét nghiệm tầm soát ung thư để sớm phát hiện các dấu hiệu bệnh, từ đó có biện pháp ngăn ngừa hoặc điều trị thích hợp”.

Từ 1-31/12, Bệnh viện An Việt triển khai chương trình ưu đãi 100% phí khám: Tầm soát ung thư Đầu, Mặt, Cổ; Ung thư vú; Ung thư cổ tử cung; Tư vấn dinh dưỡng và Gói khám cho trẻ em dưới 15 tuổị; Xét nghiệm Men gan – Tiểu đường.

Bệnh viện An Việt tặng thêm Gói khám sức khỏe miễn phí trị giá 410.000đ bao gồm: Khám lâm sàng, khám tổng quát, tổng phân tích máu 18 chỉ số, xét nghiệm đường máu, chụp X-Quang lồng ngực thẳng... cho các đối tượng là cựu chiến binh, nhân kỷ niệm ngày Thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam.

Q.An

Dự báo đến năm 2020, số người ung thư thực quản ở đàn ông Việt tăng 2,8 lần; ung thư buồng trứng ở nữ cũng tăng 2,5 lần so với năm 2010; cùng với ung thư phổi, dạ dày, vú, đại trực tràng, tuyến giáp.

Theo số liệu công bố tại hội thảo về vai trò giám sát và đánh giá trong chiến lược phòng chống bệnh ung thư diễn ra ở Hà Nội ngày 12/12, năm 2010 Việt Nam phát hiện hơn 126.000 ca ung thư mới ở cả hai giới. Dự báo đến năm 2020, con số này là gần 200.000 ca. Các bệnh ung thư nam giới mắc nhiều nhất vẫn là phổi, dạ dày, đại trực tràng, thực quản... và ở nữ là ung thư vú, đại trực tràng, phổi, buồng trứng…

Trong giai đoạn 2010-2020, dự báo số người bị ung thư thực quản tăng 2,8 lần (từ 3.872 lên 10.920 ca). Tương tự, số người mắc ung thư đại trực tràng tăng 1,75 lần; bị ung thư phổi tăng 1,56 lần (lên gần 23.000 ca), ung thư dạ dày tăng hơn 1 lần.

Ở nữ giới, ung thư vú vẫn phổ biến nhất với số bệnh nhân dự báo sẽ tăng từ hơn 12.500 năm 2010 lên 22.612 ca vào năm 2020 (1,8 lần). Tương tự số người bị ung thư đại trực tràng cũng tăng 1,8 lần, ung thư phổi tăng 2 lần, tuyến giáp tăng 2,1 lần. Đáng chú ý số ca ung thư buồng trứng dự báo tăng 2,5 lần trong 4 năm tới, từ 2.185 ca lên 5.558.

7-benh-ung-thu-se-tan-cong-nhieu-nguoi-viet-trong-4-nam-toi

Chế độ ăn uống không lành mạnh, mất an toàn thực phẩm làm tăng nguy cơ mắc các bệnh ung thư. Ảnh minh họa: The Independent. 

Phó giáo sư Lương Ngọc Khuê, Cục trưởng Quản lý Khám chữa bệnh, Bộ Y tế cho biết, giống như các nước trong khu vực và các nước đang phát triển; Việt Nam đang đối mặt với bệnh tật kép: Bệnh lây nhiễm, mới nổi và bệnh không lây nhiễm, trong đó ung thư đang là vấn đề báo động. 

“Phát hiện ung thư giai đoạn cuối giống như án tử hình. Sao ngày nay nhiều người bị ung thư đến như vậy? Có thể do biến đổi khí hậu, lối sống thay đổi, ô nhiễm môi trường, mất an toàn thực phẩm, tiến bộ khoa kỹ thuật giúp phát hiện sớm bệnh, người dân có ý thức đi khám hơn…”, phó giáo sư Khuê nói.

Bà Julie Toredo, Phó giám đốc điều hành Hội kiểm soát ung thư quốc tế cho biết, các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi gồm thuốc lá, chế độ ăn không lành mạnh, thiếu vận động, sử dụng đồ uống có cồn. Bạn có thể chiến thắng ung thư bằng cách chăm sóc sức khỏe trọn đời: Đăng ký tiêm chủng, phát hiện sớm ung thư cổ tử cung, vú, đại tràng, miệng...

Với trên 100 loại ung thư khác nhau ở bất cứ bộ phận nào trên cơ thể, bệnh gây những hậu quả sức khỏe nghiêm trọng và là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu. Trên thế giới có hơn 14 triệu ca ung thư mới, 8,2 triệu người tử vong do ung thư. Quá nửa ca ung thư mới, tử vong xảy ra ở các vùng kém phát triển.

Theo phó giáo sư Trần Văn Thuấn, Giám Đốc Bệnh viện K, Viện trưởng Nghiên cứu phòng chống ung thư, ung thư đang trở thành thảm họa sức khỏe thầm lặng. 80% bệnh nhân ung thư có liên quan đến môi trường sống hàng ngày, bao gồm lối sống thiếu khoa học, các thói quen sinh hoạt, tật xấu như hút thuốc, uống rượu, chế độ dinh dưỡng không hợp lý và không an toàn. Nhiều bệnh ung thư có thể ngăn ngừa bằng cách tránh tiếp xúc trực tiếp với các yếu tố nguy cơ cao, chẳng hạn như khói thuốc lá, một số hóa chất độc hại.

Năm 2016 là giai đoạn đầu tiên thực hiện Chiến lược quốc gia về phòng, chống ung thư. Các chuyên gia cho rằng Việt Nam cần thiết lập hệ thống theo dõi, giám sát về ung thư để lập kế hoạch phòng và kiểm soát ung thư dựa trên bằng chứng khoa học. Hệ thống này cần bảo đảm cung cấp các thông tin y tế thường xuyên, kịp thời về các chỉ số sức khỏe; phân tích các chỉ số theo thời gian, địa điểm và giữa các nhóm quần thể; đồng thời chia sẻ, phổ biến thường xuyên các kết quả theo dõi, đánh giá.

Nam Phương

Một lá gan khỏe mạnh khi và chỉ khi tỷ lệ chất béo trong gan nằm ở ngưỡng an toàn từ 2 – 4%.

Giả sử tỷ lệ này vượt quá 10% trọng lượng của gan, nghĩa là bạn đang mắc phải căn bệnh gan nhiễm mỡ.

Và trong trường hợp bạn dùng rất hạn chế hoặc chưa một lần sử dụng các đồ uống có cồn thì chứng bệnh bạn mắc được gọi tên cụ thể là gan nhiễm mỡ không do chất cồn (viết tắt: NAFLD).

NAFLD thường gặp nhất ở những người thừa cân, béo phì, bệnh nhân tiểu đường hoặc tiền tiểu đường.
NAFLD thường gặp nhất ở những người thừa cân, béo phì, bệnh nhân tiểu đường hoặc tiền tiểu đường.

Mặc dù đây không phải là bệnh lý quá nguy hiểm, mới nghe đã thấy khủng hoảng giống như ung thư nhưng chúng ta lại không thể xem nhẹ vì theo cảnh báo của các bác sĩ, gan nhiễm mỡ không do cồn chính là nguyên nhân chủ yếu gây nên tình trạng viêm gan, xơ gan.

Người mắc gan nhiễm mỡ không do chất cồn có thể không biểu hiện bất kỳ dấu hiệu nào của bệnh hoặc chỉ nhận thấy một vài triệu chứng khác thường, song những triệu chứng này rất dễ bị bỏ qua hay nhầm lẫn sang bệnh trạng khác như:

1. Sụt cân không rõ nguyên nhân

2. Mất tập trung

3. Đau bụng (với trường hợp trẻ em thường đau ở giữa phần bụng trên phía bên phải)

4. Cơ thể yếu ớt, mệt mỏi

5. Da loang lổ, xỉn màu, đặc biệt là phần da vùng cổ và dưới cánh tay.

Hiện tại, giới khoa học vẫn chưa nghiên cứu ra loại thuốc đặc trị căn bệnh gan nhiễm mỡ không do chất cồn.

Vì thế, điều duy nhất bạn có thể làm là phòng bệnh hoặc ngăn không cho bệnh tiến triển bằng cách kiểm soát cân nặng, tập thể dục đều đặn kết hợp áp dụng chế độ ăn uống giảm đường và chất béo, tăng cường chất xơ, đồng thời luôn hướng tới xây dựng một lối sống lành mạnh về cả thể chất lẫn tinh thần.

Theo Sức khỏe & Đời sống

Một sự thật đáng ngạc nhiên là cơ thể bạn có thể chống lại chính tuyến giáp của bạn gây ra tình trạng viêm tuyến giáp mãn tính.

Khu vực tuyến giáp là một bộ phận hình cánh bướm nhỏ nằm ở phần cổ, đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát trao đổi chất cũng như điều khiển hoạt động hô hấp, nhịp tim và thân nhiệt. Khi mắc chứng tự miễn dịch , cơ thể nhầm lẫn tuyến giáp là một trong những nhân tố cần phải tiêu diệt giống như vi khuẩn xâm nhập cơ thể. Hiện tượng này sẽ gây suy giảm chức năng tuyến giáp và ảnh hưởng tới không ít hoạt động của cơ thể.

Alfred Spears, nhà nghiên cứu y sinh tại Trung tâm y tế San Francisco (Hoa Kỳ) cho biết, tình trạng này rất phổ biến đối với những phụ nữ trong độ tuổi từ 30 đến 50. Dưới đây là một vài thông tin thuyết yếu về căn bệnh này bạn cần trang bị cho bản thân:

Vấn đề nằm ở gen

Hiện tượng khó chịu này có nguyên nhân chủ yếu bắt nguồn từ gen. Trên thực tế, khi một thành viên trong gia đình của bạn gặp những vấn đề với hội chứng tự miễn dịch, những người khác cũng sở hữu nguy cơ đối mặt với tình trạng tương tự khá cao.

Monika Shirodkar, dược sĩ kiêm bác sĩ chuyên khoa nội tiết tại Trung tâm y khoa Jefferson Health (Mỹ) cho biết, không nhiều người này nắm được nhiều thông đến viêm tuyến giáp mãn tính. Bệnh có thể ảnh hưởng tới rất nhiều khía cạnh cuộc sống của bạn từ những thói quen sinh hoạt hàng ngày cho tới việc tạo ra những nguy cơ gây nên ung thư tuyến giáp. Nếu bạn đang đối mặt với căn bệnh này, hãy trang bị cho bản thân càng nhiều kiến thức càng tốt ngay từ bây giờ.

Những triệu chứng không rõ ràng

Thông thường những triệu chứng của chứng tự miễn dịch tuyến giáp không rõ ràng mà bạn sẽ cần chú ý đặc biệt để nhận ra. Bạn có thể cảm thấy mệt mỏi, tăng nhẹ cân hay thậm chí cả táo bón. Đôi lúc, bạn lại gặp những vấn đề về trí nhớ hay trải qua những cơn căng thẳng đột ngột.

Những vấn đề này thường dễ dàng bị bỏ qua hoặc đổ tội cho áp lực cuộc sống. Cách hữu hiệu nhất để nhận biết là quan sát tần suất của hiện tượng có dày đặc và dai dẳng hay không. Hãy liên lạc với các chuyên gia y khoa để nhận được sự trợ giúp nếu tình trạng của bạn càng ngày càng tệ hại. Một vài dấu hiệu khác của viêm tuyến giáp mãn tính bao gồm rụng tóc, đau nhức cơ, khớp và chu kỳ kinh nguyệt thất thường.

Việc kiểm tra không hề khó khăn

Xét nghiệm máu sẽ giúp các nhà khoa học xác định được hàm lượng hai loại hormone tuyến giáp TSH và T4. Chúng sẽ cho bạn biết chính xác liệu bạn có gặp vấn đề với tuyến giáp hay không. Đôi lúc, nếu phát hiện trong máu có những kháng thể chống lại tuyến giáp, các chuyên gia y khoa có thể nhanh chóng kết luận hệ miễn dịch của bạn đang tìm cách tiêu diệt khu vực quan trọng này.

Bạn thường không phát hiện được viêm tuyến giáp mãn tính

Debby Herbenick, nhà dược sĩ học kiêm tư vấn viên nội tiết tại Đại học Indiana (Mỹ) cho biết, viêm tuyến giáp mãn tính thường khá khó để chẩn đoán và nhận biết bởi những triệu chứng không xuất hiện rõ ràng và liên tục.

Tất cả những gì bạn có thể làm để đảm bảo mình ở trong mức an toàn đó là theo dõi sát sao cơ thể cũng như thường xuyên liên lạc với các chuyên gia y khoa.

Tăng cân là một trong những dấu hiệu rõ ràng

Cân nặng tăng một cách đột ngột là điều không ai mong muốn. Thông thường, việc thay đổi đột ngột trọng lượng cơ thể thường biểu hiện những vấn đề sức khỏe khá nghiêm trọng.

Solomon Evans, tư vấn viên kiêm bác sĩ nội tiết tại Bệnh viện Edouar-Herriot (Pháp) cho biết, tuyến giáp có ảnh hưởng lớn tới vấn đề tuần hoàn và trao đổi chất trong cơ thể do đó, khi chức năng khu vực này bị suy giảm, bạn sẽ nhanh chóng gặp những vấn đề về cân nặng.

Điều trị bằng thuốc là phương pháp hữu hiệu nhất

Debby Herbenick, nhà dược sĩ học kiêm tư vấn viên phụ khoa tại Đại học Indiana (Mỹ) cho biết, điều trị thuốc gia tăng hormone tuyến giáp tổng hợp là biện pháp hữu hiệu nhất trong thời điểm hiện tại.

Những loại thuốc sẽ bổ sung chức năng mà tuyến giáp đang bị hạn chế, giúp cân bằng và điều tiết cơ thể hiệu quả. Với những người gặp vấn đề về tuyến giáp, họ sẽ phải trung thành với những viên thuốc suốt đời.

Những phương pháp điều trị tự nhiên không hoàn toàn hiệu quả

Những thực phẩm tự nhiên chưa từng được các nhà khoa học công bố chính thức về tác dụng trong việc điều hòa hoạt động của tuyến giáp. Những tác động này có thể không đồng đều giữa những người khác nhau và không thực sự ổn định như loại thuốc bổ sung hormone tuyến giáp tổng hợp nhân tạo.

Theo chuyên gia dinh dưỡng Clare McKindley tại Trung tâm y tế Ronald Reagan UCLA, California (Hoa Kỳ), phụ nữ đang mang thai nên trung thành với các loại thuốc nhân tạo bởi chúng đảm bảo việc duy trì hoạt động của tuyến giáp ở mức độ ổn định nhất. Tuyến giáp hoạt động bất ổn sẽ gây ra những vấn đề nguy hiểm tới thai nhi, bao gồm những biến chứng cơ thể, dị tật bẩm sinh và những vấn đề sức khỏe khác.

Biện pháp điều trị hữu hiệu nhất phụ thuộc vào từng người

Đối với một số trường hợp, việc xác định phương pháp điều trị phù hợp nhất tốn không ít thời gian. Margaret Hudson, chuyên gia lão khoa kiêm nhà nghiên cứu y sinh tại Bệnh viện Bumrungrad International (Bangkok,Thái Lan) cho biết, đặc tính cơ thể và cơ địa mỗi người mỗi khác nên có thể phương pháp bổ sung hormone tuyến giáp phù hợp với người này nhưng lại hoàn toàn không thích hợp với người kia. Bạn có thể phải làm việc với các chuyên gia y khoa trong vòng vài tuần để tìm ra biện pháp điều trị hữu hiệu nhất.

Theo Trí thức trẻ

SKĐS - Từ hơn 30 năm nay, số ca ung thư tinh hoàn tăng lên rõ rệt. Tuy nhiên, mọi người không nên hoang mang bởi căn bệnh này đang được hưởng những thành quả to lớn của điều trị sinh hóa...

Từ hơn 30 năm nay, số ca ung thư tinh hoàn tăng lên rõ rệt. Tuy nhiên, mọi người không nên hoang mang bởi căn bệnh này đang được hưởng những thành quả to lớn của điều trị sinh hóa, làm thay đổi bản chất về tiên lượng bệnh, với tỷ lệ chữa khỏi hơn 95%.

Cho dù không phải là loại phổ biến nhất trong các ung thư tiết niệu, ung thư tinh hoàn thường gặp sau tuổi dậy thì đã trở thành loại ung thư hay gặp nhất ở người trẻ từ 20-35 tuổi. Tỷ lệ thường gặp trung bình là 6 ca/100.000 người dân. Một số yếu tố thuận lợi cho ung thư tinh hoàn là tinh hoàn chưa xuống bìu, loạn sản tế bào sinh dục bao gồm cả teo tinh hoàn và các rối loạn vô sinh. Một số yếu tố môi trường, đặc biệt là nội tiết tố, nguồn gốc do mất thăng bằng tuyến nội tiết trong thời kỳ bào thai cũng có thể trở thành điều kiện gây bệnh thuận lợi.

Làm sao phát hiện bệnh?

Bệnh có thể chẩn đoán dễ dàng qua việc tự khám bìu thấy một khối u tinh hoàn. Trước đây, sự khám nghiệm phối hợp giữa nhà trường với bệnh viện đã cho phép phát hiện ung thư tinh hoàn ở thanh niên. Trong trường hợp khó chẩn đoán, siêu âm phối hợp với siêu âm Doppler màu giúp xác định chẩn đoán.

Một số xét nghiệm máu đặc hiệu với khối u mầm như Alpha-phoeto-proteine và nội tiết tố Gonadotrophique chorionique (HCG). Những xét nghiệm này khẳng định chẩn đoán và nếu nồng độ cao cho phép tiên lượng bệnh và là yếu tố để theo dõi hiệu quả điều trị. Cho dù ít đặc hiệu hơn, Lactate-dehydrogenase (LDH) cũng có giá trị tiên lượng bệnh.

Tỷ lệ chữa khỏi ung thư tinh hoàn khá cao.

Các giai đoạn của bệnh

Có thể phân ra các giai đoạn như sau: Giai đoạn T tương ứng với sự lan tỏa tại chỗ của khối u với 4 mức độ. Giai đoạn N tương ứng với việc lan tỏa đến các hạch sau phúc mạc có 3 mức độ. Giai đoạn M tương ứng với sự di căn tới các cơ quan khác và sau này bổ sung thêm giai đoạn S tương ứng với các đánh dấu (Marqueurs) đặc hiệu.

Chữa trị thế nào?

Khi chẩn đoán ung thư tinh hoàn có thể chỉ định phẫu thuật cắt tinh hoàn. Sau khi cắt tinh hoàn, nên đặt tinh hoàn giả cho bệnh nhân với mục đích ổn định tâm lý cho người bệnh. Ngoài ra, khuyến cáo người phẫu thuật cắt bỏ tinh hoàn nên thu giữ tinh trùng vào ngân hàng tinh trùng trước khi phẫu thuật, vì lý do một số thuốc trong điều trị ung thư tinh hoàn có thể gây mất tinh trùng ảnh hưởng tới việc có con sau này. Người bệnh cũng không nên lo lắng nhiều cho cuộc sống phòng the sau đó vì phẫu thuật này không gây rối loạn tình dục.

Những nghiên cứu giải phẫu bệnh và đánh giá mức độ khu trú hay phát tán của khối u (CT bụng ngực) sẽ giúp hướng tới những điều trị bổ sung cần thiết. Nếu là khối u tinh hoàn khu trú, tùy theo dạng tế bào có thể đặt ra việc chiếu tia xạ ổ bụng, dùng hóa chất hoặc nạo vét hạch sau phúc mạc, hay thậm chí chỉ cần theo dõi thông thường.

Dạng tiến triển với sự khuếch tán của tế bào ung thư vào hạch ổ bụng hay thậm chí vào cơ quan khác cần điều trị hóa chất nhiều đợt phù hợp với mức độ nặng nề của sự khuếch tán cũng như tỷ lệ marqueurs tumoraux.

Sau điều trị hóa chất, đôi khi cần phẫu thuật vét hạch còn sót lại hoặc di căn.

Trong tình huống hiếm gặp hơn là ung thư tinh hoàn hai bên xảy ra đồng thời, thứ phát hay ung thư trên một tinh hoàn độc nhất (chỉ có duy nhất một tinh hoàn) có thể cắt tinh hoàn bán phần (với điều kiện khối u nhỏ và được phát hiện sớm).

Đại đa số bệnh nhân được điều trị khỏi với các phương pháp điều trị nói trên. Sau mổ cần theo dõi đều đặn chỉ số marqueurs tumoraux và CT.

Tự khám bìu được khuyến khích cho tất cả bệnh nhân từng bị ung thư tinh hoàn đã được điều trị để phát hiện sớm bệnh có thể tái phát.

BS. Lê Sĩ Trung

SKĐS - Ung thư miệng dễ chẩn đoán và phát hiện sớm nhưng những dấu hiệu ban đầu của bệnh thường bị bỏ qua, chỉ đến khi bệnh nặng người bệnh mới đi khám, lúc đó bệnh đã ở giai đoạn muộn, điều trị kém hiệu quả.

Ung thư miệng là loại ung thư đứng thứ 6 ở đàn ông và thứ 14 phụ nữ với hơn 30.000 trường hợp được chẩn đoán mới mỗi năm. Đây không phải là loại ung thư phổ biến thường gặp nên những thông tin nhằm nâng cao nhận thức của người dân về căn bệnh này không có nhiều trên các phương tiện truyền thông. Ung thư miệng thường ảnh hưởng nặng tới cuộc sống bình thường của con người, từ ăn uống đến nói năng, giao tiếp....Rất ít trường hợp được phát hiện ở giai đoạn đầu bởi người bệnh hay nhầm lẫn là mắc nhiệt miệng hoặc loét miệng.

Theo thống kê của các Trung tâm kiểm soát dịch bệnh, 75% các trường hợp ung thư miệng có liên quan đến hút thuốc kể cả hút thuốc bị động (người bệnh không trực tiếp hút thuốc nhưng hít phải khói thuốc). Hầu hết người dân thường khám bệnh khi bệnh đã ở giai đoạn muộn. Khi đó tổn thương ở miệng có thể lây lan, dẫn đến những cơn đau kéo dài, mất các chức năng của miệng như ăn uống, nói cười... , trường hợp nặng có thể bác sĩ không kịp can thiệp bằng phẫu thuật, hoặc làm biến dạng khuôn mặt do phẫu thuật loại bỏ khối u, thậm chí dẫn đến tử vong. Trường hợp ung thư miệng đã di căn đến các vị trí khác, xuất hiện  các hạch bạch huyết ở cổ và những nơi khác, tiên lượng điều trị sẽ rất kém, chi phí điều trị cao.

Khi được phát hiện sớm, ung thư miệng có một tỷ lệ sống khá cao. Nhiều người do không quan tâm đầy đủ việc chăm sóc răng miệng dễ bỏ qua các triệu chứng ban đầu của bệnh dẫn đến chậm trễ trong phát hiện và chẩn đoán bệnh.

Những yếu tố nguy cơ gây ung thư miệng

Không giống như một số bệnh ung thư khác, ung thư miệng có rất nhiều các yếu tố nguy cơ  trong đó điển hình nhất là thuốc lá và rượu, ngoài ra còn rất nhiều yếu tố nguy cơ khác cũng gây bệnh ung thư miệng.  Cụ thể là

Sử dụng thuốc lá: Được coi là yếu tố chính gây bệnh ung thư miệng, nếu không muốn mắc bệnh này hãy từ bỏ thuốc lá.

Uống quá nhiều rượu: Theo thống kê, có khoảng 75 đến 80 % số người bị ung thư miệng uống rượu. Trong số đó, nhiều người vừa nghiện thuốc lá vừa nghiện rượu, nên rủi ro mắc bệnh càng tăng cao.

Ánh nắng mặt trời: Tiếp xúc với ánh nắng mặt trời, ở những thời điểm có tia UV cao làm tăng nguy cơ ung thư môi. Ở những người da càng sáng, càng dễ bị tổn thương ADN trong tế bào – là nguyên nhân gây ung thư. Để bảo vệ da, kể cả ở vùng khoang miệng, cần đội mũ rộng vành, bôi kem chống nắng.

 

 Tuổi tác và giới tính: Đây là một trong những yếu tố nguy cơ gây ung thư miệng, người ta đã thống kê có tới hơn 90 % các trường hợp ung thư miệng ở những người từ  45 trở lên, độ tuổi trung bình mắc bệnh là khoảng 60. Cách đây 40 năm, cứ 5 nam giới mắc ung thư miệng mới có 1 phụ nữ bị bệnh, nhưng hiện nay, tỷ lệ này chỉ là 2: 1. Điều này có liên quan đến sự gia tăng tỷ lệ hút thuốc lá ở phụ nữ.

 Triệu chứng thường gặp của ung thư miệng

 Các vị trí thường gặp nhất ở  ung thư miệng là lưỡi, sàn miệng, vòm miệng, các mô mềm ở phía sau của lưỡi, môi, và nướu răng. Các chuyên gia y khoa khuyên người bệnh nên kiểm tra định kỳ răng miệng mỗi năm bởi những dấu hiệu ban đầu của bệnh ung thư miệng dễ dàng phát hiện ngay cả bởi một nha sĩ.

Dưới đây là một số các triệu chứng phổ biến nhất của ung thư miệng:

 Loét miệng kéo dài: Nếu bạn có một vết loét miệng, có đau, chảy máu trong miệng hay trên môi, nhiều người thường nhầm tưởng là nhiệt miệng, loét miệng. Nếu vết loét miệng không lành sau từ 2-3 tuần, nên được đi khám và đánh giá bởi một bác sĩ chuyên khoa.

 

 Xuất hiện mảng đổi màu trong miệng: Có thể là màu đỏ, trắng hay đen xuất hiện trong khoang miệng, bạn cần đi khám ngay. Thường những mảng đổi màu ở lưỡi, môi, nướu răng, hoặc thành đám dày trong miệng đều cần nghĩ tới bệnh ung thư.

 U cục: Đối với nhiều trường hợp, người bệnh không bị đổi màu trong khoang miệng mà xuất hiện các loại u cục. Các loại khối u cục, người bệnh có thể dễ dàng phát hiện bằng mắt thường hoặc sờ tay. Với bất kỳ khối bất thường nào trên cơ thể kể cả trong khoang miệng hay ngoài môi bạn cần đến gặp bác sĩ để được thăm khám.

 Khó nuốt: Đau là dấu hiệu cảnh báo cảm giác rất quan trọng, khi bạn bị đau trong cổ họng, miệng hoặc đau khi di chuyển lưỡi là những dấu hiệu ban đầu của ung thư miệng. Cộng thêm triệu chứng khó nuốt, vướng, khó nhai hay nói, khản tiếng bất thường, sụt cân, mệt mỏi.... người bệnh cần tìm đến bác sĩ ngay.

 Mặc dù những triệu chứng của ung thư miệng dễ chẩn đoán, nhưng người bệnh thường rất dễ bỏ qua hoặc cho là mình mắc bệnh khác. Cần nâng cao nhận thức về căn bệnh này để không phải hối tiếc vì  đến bệnh viện lúc đã quá muộn.

 Bạch Dương (Theo Dummies)

SKĐS - Bệnh ung thư tiền liệt tuyến hiện nay khá phổ biến ở nam giới cao tuổi. Nếu được phát hiện sớm và điều trị tích cực bệnh có thể được chữa khỏi...

Tuyến tiền liệt là một tuyến quan trọng của hệ niệu sinh dục nam giới, không thành đôi, có hình trụ, hình dáng bên ngoài giống như hạt dẻ, nặng khoảng 20g, nằm ở dưới cổ bàng quang, bao quanh phần tuyến tiền liệt niệu đạo.

Tuyến tiền liệt chia làm 5 thùy: Thùy trước, thùy giữa, thùy sau và thùy hai bên.

Khi thùy giữa tăng trưởng làm cho niêm mạc bàng quang phía sau cửa ra của niệu đạo lồi lên, từ đó chèn ép cửa ra của niệu đạo, rất dễ gây nên việc đi tiểu khó khăn.

Nguyên nhân gây ung thư (UT) tuyến tiền liệt (TTL) còn chưa được biết rõ nhưng qua một số bằng chứng về dịch tễ học người ta thấy ung thư tiền liệt tuyến (UTTLT) có liên quan tới chế độ ăn và gen. Nguy cơ mắc UTTTL tăng lên cùng với hàm lượng chất béo trong chế độ ăn. Người có cha hoặc anh em ruột mắc UTTTL có nguy cơ mắc bệnh này cao gấp 2 - 4 lần so với người thường. Bệnh hay gặp ở người sau 50 tuổi. Theo khuyến cáo của Hiệp hội phòng chống UT Hoa Kỳ, để sàng lọc, phát hiện sớm UT tuyến tiền liệt nên tiến hành thăm khám trực tràng bằng tay hàng năm kết hợp với định lượng PSA ở đàn ông 50 tuổi trở lên.

Chẩn đoán ung thư tiền liệt tuyến có khó?


tien liet tuyen, cac giai doan cua ung thu tien liet tuyen

Các giai đoạn của ung thư tiền liệt tuyến

Biểu hiện lâm sàng

Ở giai đoạn sớm: Các triệu chứng biểu hiện sự xâm lấn hoặc chèn ép gây cản trở đường dẫn nước tiểu từ bàng quang ra ngoài như tiểu khó, tiểu nhiều lần, tiểu không hết nước tiểu, tiểu ban đêm, đôi khi bí đái và đái máu.

Giai đoạn lan tràn tại chỗ: Bí đái là triệu chứng thường gặp nhất, có thể kèm theo các triệu chứng khác như đái máu, nhiễm trùng tiết niệu thứ phát, u xâm lấn rộng gây chèn ép trực tràng hoặc cương đau dương vật.

Giai đoạn muộn: Ngoài các triệu chứng tại chỗ, các triệu chứng di căn có thể biểu hiện rầm rộ hoặc âm thầm qua các xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh nhờ gợi ý của tăng chất chỉ điểm u PSA. Di căn xương (đau xương, gãy xương bệnh lý...); các hội chứng về thần kinh do u di căn đốt sống gây chèn ép tủy sống (yếu liệt hai chi dưới, liệt nửa người...); muộn hơn có thể gặp di căn não, phổi, gan, dạ dày, tuyến thượng thận, ống tiêu húa; hội chứng thiếu máu, đông máu nội mạch rải rác.

Khám lâm sàng

Thăm trực tràng bằng tay là động tác đơn giản nhưng có giá trị chẩn đoán cao. Qua thăm trực tràng có thể phát hiện thấy khối u, đánh giá tuyến tiền liệt về mật độ, kích thước, mức độ xâm lấn xung quanh, đặc điểm của rãnh giữa, tình trạng của thành trực tràng, sự hẹp lòng trực tràng.

Cận lâm sàng

Định lượng PSA: PSA là kháng nguyên đặc hiệu tổ chức tuy nhiên nó không phải là kháng nguyên đặc hiệu chẩn đoán UTTTL. PSA có thể tăng trong các trường hợp viêm tuyến tiền liệt, phì đại tuyến tiền liệt lành tính, các thủ thuật can thiệp đến tuyến tiền liệt như sinh thiết chẩn đoán hoặc phẫu thuật cắt u qua đường niệu đạo. Giá trị PSA bình thường < 4ng/mL. Độ nhạy của xét nghiệm này trong chẩn đoán UTTTL khoảng 80%, độ đặc hiệu từ 15 - 20%. Hiện tại PSA được ứng dụng như một test sàng lọc khi kết hợp với thăm khám trực tràng bằng tay, đồng thời có giá trị trong việc đánh giỏ kết quả điều trị và theo dõi sau điều trị.

Siêu âm nội trực tràng: Được áp dụng trong quan sát tuyến tiền liệt từ những năm 80 của thế kỷ XX. Phương pháp này có giá trị chẩn đoán chính xác hơn so với thăm trực tràng, có vai trò quan trọng đánh giá giai đoạn và hướng dẫn sinh thiết khối u qua thành trực tràng một cách chính xác. Gần đây siêu âm Doppler nội trực tràng được áp dụng cho phép đánh giá rõ hơn sự lan tràn của khối u và các mạch máu lân cận.

Chụp cắt lớp vi tính (CT): Chụp cắt lớp vùng tiểu khung có giá trị xác định mức độ xâm lấn xung quanh của khối u, di căn hạch chậu, tuy nhiên với những trường hợp tổn thương có các yếu tố thuận lợi hoặc PSA nhỏ hơn 10 ng/ml thì chụp cắt lớp là không cần thiết vì khả năng tìm thấy hạch chậu rất thấp.

Chụp cộng hưởng từ hạt nhân (MRI): Có giá trị đánh giá mức độ xâm lấn của khối u vào tổ chức xung quanh và hạch vùng, với kỹ thuật MRI nội trực tràng cho phép đánh giá kích  thước u chính xác hơn.

Chụp PET (Positron Emission Tomography): Là phương pháp chẩn đoán hình ảnh sử dụng các chất gắn đồng vị phóng xạ và mới được đưa vào áp dụng tại một số trung tâm lớn, tuy nhiên theo nhiều nghiên cứu mới đây PET có vai trò hạn chế trong chẩn đoán ung thư tuyến tiền liệt.

Sinh thiết: Sinh thiết kim đường tầng sinh môn hoặc qua thành trực tràng có hoặc không có hướng dẫn của siêu âm có giá trị chẩn đoán mô bệnh học chính xác. Sinh thiết tất cả các điểm nghi ngờ khi nhìn thấy hoặc sờ thấy trên lâm sàng, ngoài ra cần sinh thiết ít nhất 6-12 vị trí khác nhau ở tuyến tiền liệt để có chẩn đoán chính xác.

Xạ hình xương: Đánh giá tình trạng di căn xương chính xác hơn chụp X quang thông thường.

Một số xét nghiệm khác đánh giá tình trạng lan tràn của bệnh như siêu âm ổ bụng, X quang phổi, đánh giá chức năng gan, thận, hệ tạo huyết.

Chẩn đoán phân biệt

Cần chẩn đoán phân biệt UTTLT với bệnh phỡ đại lành tính tuyến tiền liệt, sỏi, nang tuyến tiền liệt, lao tuyến tiền liệt, viờm tuyến tiền liệt.

Điều trị ung thư tiền liệt tuyến

Lựa chọn phương pháp điều trị thích hợp phải dựa vào mức độ xâm lấn của u, độ mô học, mức độ PSA máu, tuổi và thể trạng chung của người bệnh, tác dụng phụ liên quan của phương pháp điều trị ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống. Đối với bệnh nhân dưới 60 tuổi giai đoạn T1a có thể không điều trị chỉ cần theo dõi chặt chẽ. Cỏc trường hợp cũn lại ở giai đoạn cũn khu trỳ tại tuyến tiền liệt (T1b,1c, 2), phẫu thuật cắt tuyến tiền liệt triệt để và xạ trị liều cao có hiệu quả như nhau. Theo dừi đơn thuần có thể áp dụng cho các trường hợp độ mô bệnh học thấp, u khu trú tại TTL. Giai đoạn III của bệnh thường được điều trị bằng xạ trị. Bệnh nhân tuổi cao, tỡnh trạng sức khỏe chung khụng được tốt có thể không cần áp dụng phương pháp điều trị gỡ do tiến triển tự nhiờn của bệnh thường chậm. Bệnh nhân giai đoạn muộn đó cú di căn thường được điều trị ban đầu bằng nội tiết có thể kèm theo hoặc không kốm theo xạ trị. Các trường hợp di căn nhưng chưa có triệu chứng lâm sàng có thể chờ tới khi có triệu chứng lâm sàng mới tiến hành điều trị. Hiệu quả tác dụng của thuốc không phụ thuộc vào khoảng thời gian chờ đợi này.

Phòng bệnh ung thư tiền liệt tuyến thế nào?

Tập thể dục và vận động vài giờ mỗi tuần có thể phòng tránh béo phì và giúp cơ thể ngăn ngừa bệnh tật.

“Yêu” đều đặn để giúp giảm nguy cơ bị ung thư tuyến tiền liệt.

Duy trì khám sức khỏe hàng năm và không được bỏ sót xét nghiệm PSA để kiểm tra tình trạng sức khỏe hiện tại và có thể phát hiện ra bệnh ở những giai đoạn sớm.

Một số chế phẩm bổ sung như selen có thể làm giảm nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt. Trước khi dựng bất kỳ chế phẩm bổ sung hay phác đồ thuốc, phải hỏi ý kiến bác sĩ.

Ngoài ra, một số thực phẩm có tác dụng phòng ngừa hiệu quả chứng bệnh này như rượu vang đỏ, trà xanh hoặc đậu nành. Trong rượu vang đỏ có chứa chất chống oxy hóa resvaratrol cao có khả năng ức chế sự tăng trưởng của tế bào ung thư tuyến tiền liệt, nhưng nam giới chỉ nên uống một hai ly rượu vang mỗi ngày.

BS. Nguyễn Xuân Hậu

Tem dan Don vi Gen tri lieu 1

logo vinmec

Tiêu điểm

Hỗ trợ  

Joomla Templates and Joomla Extensions by ZooTemplate.Com
Hotline: 1900575758 phím 2

Clip

Đối tác chiến lược

chung cư imperia garden

Quảng cáo

Banner

Hình ảnh tiêu biểu

Đối tác chiến lược

chung cư imperia garden

Thống kê

Members : 5217
Content : 1268
Web Links : 3
Content View Hits : 358350