Ung thư

            Một số nghiên cứu đã chỉ ra nguy cơ gia tăng khối u ác tính tuyến giáp ở những bệnh nhân có nồng độ TSH tăng cao. Mục đích của nghiên cứu này là để đánh giá mối liên quan giữa TSH và nguy cơ ác tính ở những bệnh nhân có nhân tuyến giáp.

            Nghiên cứu tiến hành tại trung tâm Nội tiết, Bệnh viện Clinicas, Đại học Liên bang Parana (SEMPR) trên 622 bệnh nhân có nhân tuyến giáp được đánh giá bằng cách chọc hút kim nhỏ và/hoặc phẫu thuật tuyến giáp, sau đó được chẩn đoán bằng xét nghiệm tế bào học và/hoặc mô bệnh học. Các dữ liệu về lâm sàng và xét nghiệm, chẳng hạn như giới tính, cân nặng, kết quả siêu âm, TSH huyết thanh, và T4 tự do, được lấy từ hồ sơ y tế hoặc được thu thập trong lần thăm khám đầu tiên của mỗi bệnh nhân đến trung tâm, trước khi tiến hành bất kỳ sự can thiệp nào.
            Kết quả cho thấy ung thư tuyến giáp phổ biến hơn ở nam giới (p=0.012) và ở những bệnh nhân có một nhân đơn độc (p<0,01). Các khối u ác tính là chủ yếu là u đặc, trong khi các khối u lành tính có thể là u đặc hoặc hỗn hợp (p=0,053). Nguy cơ gia tăng ung thư ở những bệnh nhân có nhân tuyến giáp song song với sự gia tăng nồng độ TSH huyết thanh, với mức tăng đáng kể ở những bệnh nhân có nồng độ TSH huyết thanh trên 1,64mU/L (p<0,001). Mối quan hệ này cũng phù hợp ở phân nhóm bệnh nhân phẫu thuật tuyến giáp được phân tích riêng rẽ. Những bệnh nhân với tổn thương ác tính dạng nang cũng có mức TSH cao hơn đáng kể so với những bệnh nhân có xét nghiệm tế bào học lành tính (p<0,001). Nghiên cứu cũng cho thấy có mối tương quan giữa nồng độ TSH và kích thước khối u (p=0,005).

            Tóm lại, kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng những bệnh nhân với tổn thương tuyến giáp dạng nốt có nguy cơ ung thư biểu mô tăng song song với nồng độ TSH huyết thanh, với sự gia tăng rõ rệt ở những bệnh nhân có TSH huyết thanh lớn hơn 1,64mU/L.

BS. Lê Quang Hiển (dịch)

Theo https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/26662646

Các nhà nghiên cứu đã tìm ra hướng đi mới, mở ra hi vọng mới cho những người không may mắc phải căn bệnh ung thư quái ác.

Phần lớn giới khoa học hiện nay đồng ý rằng, căn bệnh ung thư ngày càng nguy hiểm chính là do các tế bào ung thư đã di căn.

Hiểu một cách đơn giản, di căn là khả năng di chuyển của tế bào ung thư tới các bộ phận khác trên cơ thể và tiến hành xâm lấn. Thông thường, phổi, gan hay các hốc trên cơ thể là địa điểm di căn ưa thích của khối u bởi ở đây có nhiều mạch máu nhỏ, dễ tấn công và chèn ép tế bào khỏe mạnh.

Cuối cùng, chúng ta đã tìm ra cách ngăn tế bào ung thư di căn - Ảnh 1.

 Có tới hơn 90% các bệnh nhân tử vong vì ung thư là do nguyên nhân di căn này.

Sau khi di căn, ung thư làm giảm sức miễn dịch của bệnh nhân, thải ra độc tố và cạnh tranh dinh dưỡng với các bộ phận khác khiến con người chết dần, chết mòn. Theo thống kê, có tới hơn 90% các bệnh nhân tử vong vì ung thư là do nguyên nhân này.

Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu thuộc Viện Ung thư quốc gia Hoa Kỳ mới đây đã phát hiện ra một phương cách có thể "khóa trái" tế bào ung thư, ngăn không cho chúng lây lan khắp cơ thể.

Các chuyên gia đã tiến hành thử nghiệm điều trị trên chuột có tế bào ung thư. Kết quả là những khối u lớn nhưng không lây lan đến phổi, gan hay xương.

Cuối cùng, chúng ta đã tìm ra cách ngăn tế bào ung thư di căn - Ảnh 2.

Đứng đầu nghiên cứu - giáo sư Kay Macleod thuộc ĐH Chicago cho hay, quá trình này được gọi là autophagy tế bào ung thư.

Autophagy đóng vai trò vệ sinh tế bào khỏe mạnh, phá vỡ thành phần tế bào không cần thiết thành khối năng lượng hay protein để sử dụng, giúp loại bỏ tác nhân gây bệnh và chống lại bệnh ung thư.

Nhưng khi các gene liên quan autophagy bị đánh bật ra khỏi tế bào ung thư, chúng sẽ ngăn cản tế bào di chuyển.

Sau khi các tế bào bám vào một bộ phận nào đó, các protein sẽ tự động tách ra, và bị autophagy phá vỡ. Nhưng nếu quá trình này trục trặc, tế bào ung thư vẫn bám dính tại nơi đó.

Cuối cùng, chúng ta đã tìm ra cách ngăn tế bào ung thư di căn - Ảnh 3.

Giáo sư MacLeod chia sẻ: "Tôi cho rằng, việc ức chế autophagy sẽ có thể ngăn chặn sự di căn của khối u. Đây sẽ là phương pháp hiệu quả giúp ngăn chặn sự lây lan của bệnh ung thư hoặc chứng di căn ở bệnh nhân".

Nell Barrie thuộc Viện nghiên cứu Ung thư Anh cho biết: "Sẽ không hề dễ khi ta điều trị căn bệnh ung thư, đặc biệt là khi nó đã di căn. Do đó, việc có thể kìm hãm sự lây lan tế bào ung thư ra các bộ phận khác là cực kỳ quan trọng".

Nghiên cứu này vẫn đang ở giai đoạn đầu và cần phải tiếp tục tiến hành thử nghiệm lâm sàng nhiều trước khi đưa vào điều trị ung thư cho người.

Nguồn: Independent

Tế bào ung thư xuất hiện phụ thuộc vào một cơ chế sống sót kỳ lạ để lây lan khắp cơ thể, đây là kết quả của một nghiên cứu mới được công bố.

Sự lây lan của ung thư khắp cơ thể là một trong những thách thức lớn nhất trong điều trị.
Sự lây lan của ung thư khắp cơ thể là một trong những thách thức lớn nhất trong điều trị.

Nghiên cứu đã kiểm tra những thay đổi xảy ra trong các tế bào ung thư khi chúng thoát khỏi khối u trong tế bào nuôi cấy cá ngựa vằn và chuột. Điều này cho thấy các phân tử có tên “integrins” có thể là mấu chốt của vấn đề.

Sự lây lan của ung thư khắp cơ thể là một trong những thách thức lớn nhất trong điều trị. Nó thường không phải là khối u ban đầu mà bị tiêu diệt mà nó sẽ tăng trưởng tiếp tục sau đó. Điều này xảy ra khi các tế bào ung thư có thể thoát khỏi vị trí ban đầu và di chuyển sang các bộ phận khác trên cơ thể và gieo những khối u mới.

Integrins là các protein trên bề mặt của một tế bào. Chúng gắn vào tế bào và tương tác với môi trường xung quanh các tế bào. Khi các tế bào ung thư lan rộng và bước sang quá trình di căn – các integrins chuyển từ vai trò “bám dính” sang một hình thức mới có tên “inside-in“, thẩm thấu vào bên trong tế bào.

Theo Xahoithongtin

Trong thời buổi con người đang đứng trước đại dịch ung thư, nguyên căn nguồn cội cũng từ cái miệng mà ra. Nói thể chẳng lẽ con người phải may cái miệng lại mới tránh được ung thư chăng?.

Ăn là một nhu cầu thiết yếu của con người. Thời kinh tế khó khăn người ta quan niệm ăn để sống, còn bây giờ sống để ăn, ăn phải ăn ngon, thức ăn toàn là sơn hào hải vị và bổ dưỡng đắt tiền. Con người ta bôn ba vất vả kiếm tiền cuối cùng cũng chỉ phục vụ cho nhu cầu ăn uống.

Nắm bắt được nhu cầu này nhiều người đã bất chấp mạng sống và sức khỏe để mang lại lợi nhuận khổng lồ bằng cách tẩm ướp những hóa chất, thuốc tăng trọng, heo thối thịt thối hô biến thành đặc sản để đưa vào nhà hàng, quán nhậu phục vụ thực khách.

Không tin hôm nào rãnh rỗi bạn thử đảo 1 vòng đường Phạm Văn Đồng từ vòng xoay Nguyễn Thái Sơn chạy qua Thủ Đức mà xem, hàng trăm hàng quán khác nhau mộc lên như nấm, mùi thịt nướng, mùi chân gà, và các món ăn khác vô cùng hấp dẫn lôi kéo chúng ta. Đâu biết rằng đó là những ổ vi khuẩn,những mầm móng ung thư đang trực chờ.

Đó chỉ là 1 gốc ẩm thực nhỏ như nốt ruồi của Sài Gòn, còn rất nhiều nơi khác nữa. Khi viết những dòng này em đứng trên quan điểm của 1 người khuyên mọi người nên khôn ngoan trong cách lựa chọn thực phẩm chứ không kêu gọi tẩy chay các hàng quán vì đó cũng là miếng cơm manh áo của người ta.

Không chỉ ăn ở quán mới có chất độc sinh ung thư, ngay cả trên mâm cơm hàng ngày của gia đình cũng đang đầy rẫy những chất đó đấy. Nào là rau muống tưới nhớt, heo ăn thức ăn tăng trọng, trái cây tắm trắng, sữa giả… Thử hỏi làm sao không tự dưng ngày càng có nhiều trai tài gái sắc mới đôi mươi phải lìa xa cõi đời, giấc mơ ấp ủ đành khép lại cũng vì ung thư.

Theo mạng lưới phòng chống ung thư Việt Nam, với tỷ lệ mắc ung thư hiện nay là 125 nghìn người mắc mới mỗi năm, nếu cứ đà này đến năm 2012 sẽ có khoảng 190 nghìn người mắc mới mỗi năm.

So với các nước trên thế giới, tỷ lệ mắc ung thư ở Việt Nam đứng thứ 78/172 nước. Điều đặc biệt, số bệnh nhân tử vong do ung thư còn cao bởi 70% bệnh nhân phát hiện ra đã ở giai đoạn muộn.

Theo các chuyên gia về ung bướu, hoàn toàn có thể phòng tránh được bệnh, đặc biệt là phòng tránh từ các tác nhân ở bên ngoài vào, bởi vì những tác nhân đó không gây ung thư ngay mà rất lâu sau mới phát bệnh.

Các tác nhân cộng lại với nhau tạo thành những kẻ thù “đánh hội đồng” các cơ quan khác nhau, gây ra ung thư.
Theo GS Nguyễn Chấn Hùng, cách phòng ung thư tốt nhất đó là ăn lành, uống sạch. Việc ăn uống không sạch chiếm 1/3 gánh nặng của bệnh ung thư.

Ngày nay, người ta đã chỉ ra chế độ ăn uống không lành, thiếu vận động, béo phì đều gây bệnh tật đe doạ mạng sống như tim mạch, tiểu đường và ung thư.
Theo hiệp hội Quốc tế chống ung thư, thông điệp vào năm 2010 đánh động tới khoảng 2,4 tỷ người, đó là: Khoảng 40% các bệnh ung thư có thể phòng tránh.

Hội này cũng khuyến khích mọi người theo thay đổi lối sống, loại bỏ khói thuốc lá cả hút chủ động và hút bị động, tránh uống rượu quá đà, phòng tránh bệnh truyền nhiễm; tập thể dục đều, ăn đúng, ăn lành, giữ cân vừa phải.
Theo GS Hùng, tại Mỹ người ta đã chỉ ra được thủ phạm của bệnh tật, đó chính là thói quen ăn fastfood và nước ngọt.

Hiện nay, trào lưu này đã lan sang Việt Nam và đây là một điều khó có thể tránh khỏi được. Nếu cứ đà này, gánh nặng ung thư sẽ gia tăng, nhất là ung thư đại trực tràng, ung thư dạ dày.

Chính vì thế, giáo sư Hùng khuyên bệnh ung thư không còn đáng sợ nếu chúng ta hoàn toàn có thể loại bỏ được các tác nhân gây bệnh. Vì thế mọi người hãy tránh xa những tác nhân đó, trừ những yếu tố về di truyền.
Theo Giáo sư Nguyễn Chấn Hùng, Chủ tịch hội ung thư Việt Nam, hiện nay các vi rút gây ung thư đã được cảnh báo đó là vi rút viêm gan B và viêm gan C, vi rút HPV.
webtretho.com

Ngoài ra, HPV còn gây ung thư âm hộ, âm đạo, hậu môn ở phụ nữ, ung thư dương vật, ung thư miệng, hậu môn ở nam giới. Những người đồng tính nam thì vi rút HPV tăng nguy cơ gây ung thư hậu môn.

Giáo sư Hùng cũng cho biết vi rút viêm gan B và C cũng không thể coi thường. Vi rút này gây xơ gan và ung thư hoá rất cao.

Trong khi đó, tỷ lệ ung thư gan ở nam giới nước ta đáng báo động, ước tính 40/100 nghìn dân.
Nam giới có thói quen nhậu nhẹt, ăn các loại ngũ cốc mốc như đậu phộng, hạt điều, ngô vô tình có độc tố aflatoxin, cộng với nên bệnh mắc vi rút viêm gan dẫn đến lá gan bị tổn thương nặng nề.

Các bác sĩ thường nói vi rút, rượu, độc tố là cặp bài trùng liên thủ tiêu diệt lá gan.

Vi rút viêm gan lây chủ yếu qua đường tiêm chích, truyền máu, quan hệ tình dục, từ mẹ sang con.

Vì thế tiêm phòng viêm gan B là cách tốt nhất. Viêm gan C chưa có vắc xin, cần điều trị dứt điểm.

Theo giáo sư Hùng “đại dịch” viêm gan B đang trở thành gánh nặng gây ung thư gan ở Việt Nam, Trung Quốc và một số nơi khác của Châu Á. Đàn ông mắc gấp bội lần phụ nữ.

Vì thế giáo sư Hùng nhấn mạnh, cảnh giác với thức ăn mốc, cẩn thận với xăm da, chân mày, xỏ tai, xỏ mũi bởi có thể lây nhiễm viêm gan.

webtretho.com

Cứ 100.000 người Việt thì có ít nhất 14 người bị ung thư dạ dày, ngày càng có nhiều bệnh nhân trẻ tuổi và nam nhiều hơn nữ.

Theo giáo sư Trần Bình Giang, Phó Giám đốc phụ trách Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức (Hà Nội), bệnh nhân ung thư dạ dày, đại tràng ngày càng tăng và trẻ hóa. Cứ 100.000 người Việt thì có ít nhất 14 người tử vong do ung thư dạ dày. Trước kia, bệnh chủ yếu xuất hiện ở người trung niên và cao tuổi, song hiện nay ngày càng nhiều người trẻ mắc hai bệnh này. Tỷ lệ bệnh nhân nam nhiều hơn nữ.

nguoi-bi-ung-thu-da-day-dai-trang-ngay-cang-tre

Nam giới từ 45 tuổi  và nữ giới từ 40 tuổi trở lên nên đi nội soi để kiểm tra dạ dày, đại tràng. Ảnh minh họa: P.N.

Tại Bệnh viện Việt Đức, trung bình mỗi tuần có 150-200 bệnh nhân được mổ thì khoảng 20 ca ung thư dạ dày, đại tràng. Nhiều bệnh nhân đến viện khi đã ở giai đoạn muộn do tâm lý sợ mổ, hay tự chữa bằng cách bỏ đói tế bào, ăn gạo lứt…

Ung thư dạ dày, đại tràng là bệnh diễn tiến chậm. Nếu phát hiện bệnh trong giai đoạn sớm, người bệnh có thể chữa khỏi và sống 5-20 năm. Tuy nhiên, người dân chưa có thói quen khám sức khỏe định kỳ và không làm nội soi dạ dày, đại tràng theo khuyến cáo nên thường phát hiện bệnh ở giai đoạn muộn, gây khó khăn cho việc điều trị.

Giáo sư Giang khuyên, nếu sức khỏe bình thường thì phụ nữ từ 40 tuổi, nam giới từ 45 tuổi trở lên nên đi nội soi để kiểm tra dạ dày, đại tràng. Hiện nay việc nội soi có gây mê giúp người bệnh không khó chịu, không đau như trước nữa. Ít nhất 3 năm sau mới phải soi lại. Nếu kết quả nội soi phát hiện polip thì bệnh nhân phải trải qua xét nghiệm, cắt bỏ. Trường hợp polip loạn sản, nguy hiểm thì 6 tháng sau người bệnh nên đi nội soi lại, những trường hợp khác cứ một năm kiểm tra nếu có các bất thường khác. 

Phương Trang-http://suckhoe.vnexpress.net/

Monday, 03 October 2016 09:49

Không ít đàn ông mắc ung thư vú

Xưa nay nhiều người nghĩ căn bệnh ung thư vú chỉ gặp ở nữ giới, không có ở nam giới. Thực tế, cứ trong 100 người bị mắc bệnh này, vài bệnh nhân là nam.

Khi nam giới trưởng thành, nội tiết tố nam phát triển sẽ hạn chế sự phát triển của những tuyến vú. Đây chính là những lý do khiến cho nam giới có nguy cơ mắc ung thư thấp hơn nữ giới.

Tỷ lệ thấp nhưng tiên lượng xấu

Bệnh viện K Trung ương (Hà Nội) mỗi năm tiếp nhận hàng nghìn bệnh nhân ung thư vú, nhưng chỉ có vài ca ung thư vú ở nam giới. Tỷ lệ mắc bệnh thấp, nhưng hầu hết đều ở trong tình trạng tiên lượng xấu. Đa số nam bệnh nhân đều rất bất ngờ khi biết mình mắc bệnh này.

Tỷ lệ mắc ung thư vú nam thấp nhưng tiên lượng xấu.
Tỷ lệ mắc ung thư vú nam thấp nhưng tiên lượng xấu.

Ông Nguyễn Văn Hải (ở Hà Nội) chia sẻ: “Tôi có một người em trai bị ung thư vú. Ban đầu, em tôi có các triệu chứng như dưới núm vú xuất hiện một mô cứng to bằng đầu tay cái, sờ vào thấy cứng và đau. Chú ấy cũng chủ quan, chỉ nghĩ một thời gian mô cứng kia sẽ tự biến mất, nhưng đến khi không thấy bệnh thuyên giảm, núm vú lại tụt vào trong nên mới vội vàng đi khám.

Gia đình cũng chỉ nghĩ chắc bị bệnh gì đó chứ không nghĩ là bị ung thư vú, vì trước giờ chúng tôi chỉ nghĩ nữ giới mới bị. Đến khi phát hiện ra bệnh thì tình trạng đã nặng”.

Bác sĩ Văn Quang Anh - Bệnh viện K Trung ương - cho biết: “Trước nay nhiều người nghĩ rằng căn bệnh ung thư vú chỉ gặp ở nữ giới, không có ở nam giới. Thực tế, cứ trong 100 người bị mắc ung thư vú thì có vài người nam giới mắc ung thư vú. Đặc biệt, nam giới khi mắc ung thư vú thì tiên lượng xấu hơn nữ giới rất nhiều”.

Bác sĩ cho biết thêm, thông thường nam giới không có tuyến vú, chỉ có núm vú, nhưng khi có tuyến vú thì rất có thể người đàn ông đó bị ung thư vú.

Các chuyên gia y tế lý giải nguyên nhân nam giới ít mắc hơn vì những tuyến vú bắt đầu hình thành và phát triển sau thời gian dậy thì. Khi nam giới trưởng thành, nội tiết tố nam phát triển và sẽ hạn chế sự phát triển của những tuyến vú. “Cũng vì vậy mà theo tôi thấy, bệnh ung thư vú nam tập trung nhiều ở người đồng tính, khi cơ thể họ là nam giới nhưng bên trong lại có những hoóc môn của nữ”, bác sĩ Quang Anh cho biết.

Nam giới cần đi khám sớm khi thấy triệu chứng của ung thư vú

Có thể thấy nam giới và phụ nữ mặc dù đều trải nghiệm những triệu chứng ung thư vú tương tự nhau, nhưng bệnh này vẫn thường rất khó được chẩn đoán ở nam giới. Ung thư vú phát triển như là kết quả của sự tăng trưởng tế bào ác tính trong mô vú. Các tế bào ung thư có thể di căn đến các bộ phận khác của cơ thể.

Theo bác sĩ Văn Quang Anh, có nhiều nguyên nhân dẫn đến ung thư vú ở nam. Có thể đó là do sự đột biến gen, rối loạn tinh hoàn, uống nhiều rượu và hút thuốc, kèm theo lối sống không lành mạnh.

Các triệu chứng của bệnh ung thư vú ở nam giới, cho dù đó là các khối trong mô, trong da hoặc thay đổi núm vú cũng sẽ xảy ra trong khoảng thời gian nào đó. Việc chẩn đoán bệnh khá khó khăn hoặc có thể chẩn đoán nhầm.

Tuy nhiên, một số triệu chứng bệnh ung thư vú ở nam giới gồm sưng vú hoặc nổi cục bất thường ở vú. Đây là triệu chứng phổ biến nhất. Nam giới có mô vú ít hơn nữ giới nên những cục u này dễ hình dung và sờ thấy hơn. Các cục u có thể xuất hiện trong mô vú và kéo dài đến nách.

Ngoài ra, bệnh có thể gây sưng to vùng vú. Nam giới nên tự khám và đi khám khi thấy có những biến đổi bất thường.

Trong giai đoạn đầu của bệnh, có thể thấy một số biến đổi ở khu vực núm vú. Núm vú có thể bị tụt vào trong và chỉ thấy các mô vú. Trong một vài trường hợp, núm vú có thể to hơn, rộng hơn kèm theo đó là tăng dịch tiết từ núm vú. Những dịch tiết này thường mờ đục, có máu, mùi khó chịu. Các triệu chứng này có thể đi kèm với các cơn đau ngực. Một vài trường hợp không xuất hiện cơn đau.

Cùng với các triệu chứng trên còn có sự thay đổi về sắc tố da. Đây cũng là thay đổi trên vùng vú có thể quan sát được. Ung thư vú làm thay đổi rõ rệt vùng da xung quanh vú. Một người bị ung thư vú vùng da xung quanh thường trở nên nhăn và chảy xệ. Đây là biểu hiện đặc trưng của bệnh ung thư vú được gọi là ung thư do viêm vú.

Biểu hiện tiếp nữa là vùng vú bị tấy đỏ. Nhiều người thường bỏ qua triệu chứng này bởi có thể do va chạm, dị ứng dẫn đến tẩy đỏ.

Tuy nhiên, nếu tình trạng này kéo dài kèm theo sưng, ngứa, nam giới cần đi khám ngay vì rất có thể đây là biểu hiện của bệnh ung thư vú hay các bệnh về tuyến vú.

Theo Mai Hiền

Pháp Luật Việt Nam

Ung thư xương không còn là bệnh hiếm nữa. Chỉ cần có các triệu chứng như đau đớn, sưng hay biến dạng cơ thể, toàn thân đau mỏi... thì hãy đi khám ngay để điều trị kịp thời.

Lâu nay nhiều người thường nghĩ ung thư xương là bệnh hiếm, nhưng trước tình hình diễn biến phức tạp của bệnh, số bệnh nhân tăng lên ngày một nhiều khiến các bác sĩ phải lên tiếng cảnh báo.

Đa số những bệnh nhân khi nhập viện đều đã có biểu hiện ung thư xương nặng, rất khó khăn trong việc can thiệp y tế. Sau đây là 7 dấu hiệu bất thường của xương, bạn nên đi khám ngay để xác định có phải ung thư hay không.

Những triệu chứng cảnh báo bệnh ung thư xương cần đi khám ngay - Ảnh 1.

1. Đau đớn

Các triệu chứng chính của các khối u xương phát sinh sớm, bệnh ban đầu chỉ đau nhẹ, không liên tục. Cùng với sự tiến triển của bệnh, cơn đau có thể tăng dần lên, sự phát triển của những cơn đau thường cố định.

Hầu hết bệnh nhân tăng đau vào ban đêm, ảnh hưởng đến giấc ngủ. Sự đau đớn diễn ra mơ hồ, bạn gần như khó biết đau từ đâu.

2. Sưng hoặc nổi u cục

Ở thời kỳ đầu, khối u có thể xuất hiện, sờ thấy xương biến dạng. Khi sưng nhiều hơn có thể khiến mô xương nhô ra ngoài, bề mặt trơn bóng hoặc lồi lõm bất thường.

3. Rối loạn chức năng xương

Khi bệnh nhân bị ung thư xương nặng hơn hoặc vào giai đoạn muộn, sẽ gây ra một số cơn đau, sưng và chức năng xương ở bệnh nhân bị cản trở, gây ra các triệu chứng teo cơ tương ứng kèm theo.

4. Triệu chứng bị nén ép

Khi có khối u nào đó phát triển trong khoang sọ và khoang mũi có thể gây chèn ép vào não và mũi, xuất hiện triệu chứng áp lực não chậm chạp và nảy sinh các vấn đề về hô hấp.

U vùng chậu nén vào trực tràng, bàng quang, ruột gây cảm giác khó tiểu, khối u tủy đè nén cột sống có thể gây tê liệt.

5. Biến dạng cơ thể

Do sự phát triển của khối u sẽ làm ảnh hưởng lên hệ xương chi, gây ra các triệu chứng dị tật, cơ thể biến dạng, chi dưới có thể có những thay đổi bất thường so với trước đó.

Những triệu chứng cảnh báo bệnh ung thư xương cần đi khám ngay - Ảnh 2.

6. Gãy xương bệnh lý

Phần xương bị bệnh nếu chỉ cần có một tác động nhẹ sẽ rất dễ bị gãy, đau nặng, thường xuất hiện các triệu chứng đau xương thường xuyên, dễ bị gãy xương, cũng có thể gây liệt chân.

7. Đau nhức toàn thân

Khi có khối u xương ở giai đoạn muộn, do các độc tố trong khối u kích thích đau có thể có một loạt các triệu chứng xuất hiện toàn thân như mất ngủ, khó chịu, chán ăn, bơ phờ, xanh xao, giảm cân tiến bộ, thiếu máu, suy mòn.

Khi gặp những triệu chứng này, bạn nên dành thời gian đi khám càng sớm càng tốt. Phòng bệnh hơn chữa bệnh, chữa bệnh sớm luôn tốt hơn để đến khi bệnh đã nặng.

Theo Trí thức trẻ

Theo kết quả nghiên cứu mới đây của nhóm nhà khoa học Canada và Israel, ứng dụng công nghệ nano trong y học có khả năng tạo nên một cuộc cách mạng trong việc điều trị các căn bệnh đe dọa tính mạng như ung thư. Nanobot hay robot nano là một loại robot siêu nhỏ, kích cỡ chỉ bằng vài nano, có khả năng thâm nhập và điều khiển các bộ phận ở mức độ nguyên tử. 


Bằng cách tiêm trực tiếp các tác nhân này vào khu vực cơ thể cần điều trị, phương pháp này cho phép nanobot nhắm mục tiêu chính xác vào các tế bào mang bệnh, giảm nguy cơ gây ảnh hưởng tiêu cực đến các tế bào khỏe mạnh khác. Tính ưu việt này được cho là có thể đánh bật các phương pháp điều trị thông thường như dùng thuốc hoặc hóa trị liệu.

Nano

Nanobot với kích cỡ siêu nhỏ có thể tiếp cận và trực tiếp điều trị các khối u ung thư.(Hình minh họa)

Nhóm nghiên cứu hợp tác giữa Đại học Montreal và Đại học McGill ở Canada đã chứng minh thành công rằng ứng dụng nanobot là một phương pháp điều trị sáng tạo. Phương pháp này dựa trên một chuỗi các hạt nano từ tính di chuyển theo hướng của từ trường.

Một bộ cảm biến giúp nanobot thâm nhập và tồn tại trong vùng nhiễm bệnh hoặc thậm chí khối u nằm bên trong cơ thể để tập trung xử lý. Khám phá này giúp mở đường cho các vi máy móc nhân tạo gây tác dụng trực tiếp lên mầm bệnh, ngay cả những bệnh nhẹ như đau đầu hoặc đau bụng. 

Bên cạnh đó, nhóm các nhà khoa học Israel tại trung tâm Interdisciplinary, Herzliya và Đại học Bar Ilan, Ramat Gat cũng đã phát triển phương pháp điều trị sử dụng nanobot điều khiển bằng ý nghĩ. 
Theo nghiên cứu có tựa đề “Nanobot điều khiển suy nghĩ trong một thực thể sống” của nhóm này, công nghệ này tự động cho phép nanobot có thể chứa thuốc bên trong và có nguồn gốc từ ADN vào trong cơ thể. Robot này có thể được kiểm soát bằng phần mềm máy tính để mang thuốc tới vị trí cần thiết của người bệnh và kiểm soát các hoạt động khác của não bộ. 

Sachar Arnon, một thành viên của nhóm nghiên cứu, cho biết: “Các thuật toán có thể theo dõi trạng thái của não người bị rối loạn tăng động giảm chú ý hoặc tâm thần phân liệt. Nó có thể được sửa đổi để phù hợp với nhu cầu của bạn”. 

Ngoài ra, kỹ thuật này cũng rất hữu ích đối với những bệnh nhân có tình trạng bệnh lý cần dùng thuốc khẩn cấp như bệnh tiểu đường hoặc hen suyễn.

Hiện nay, công nghệ nano cũng như các tiến bộ khoa học khác ngày càng được ứng dụng sâu rộng trong điều trị bệnh. Đây là minh chứng rõ rệt cho thấy chúng ta đang sống trong một thời đại mà thực tế đang tiến gần với những điều giả tưởng trong các bộ phim khoa học viễn tưởng trước đây. Trên đà phát triển như vậy, con người có thể hi vọng vào viễn cảnh một tương lai không còn bệnh tật. 

Theo Sputnik/Tin tức/Hanoimoi

Ung thư vú ở nam giới tuy hiếm gặp nhưng cũng nguy hiểm không kém ung thư vú ở nữ giới. Vì có ít kiến thức về triệu chứng và sự chủ quan, nhiều người lại bỏ qua các dấu hiệu ban đầu của bệnh dẫn tới nguy hiểm đến tính mạng.

Nam giới cũng cần khám sức khỏe định kỳ để sớm phát hiện những bất thường ở ngực. Ảnh minh họa
Nam giới cũng cần khám sức khỏe định kỳ để sớm phát hiện những bất thường ở ngực. Ảnh minh họa

Không tin khi bác sĩ kết luận bị ung thư vú

Cách đây gần một năm, ông Nguyễn Văn Tính (ở Hải Dương) phát hiện ở ngay dưới đầu núm vú có khối hạch cứng nhỏ bằng ngón tay cái. Vì sờ không thấy đau, ông nghĩ không sao nên chủ quan không đi khám. Chỉ khi thấy cái u phát triển ngày càng lớn, núm vú thụt vào trong, ông Tính mới đi kiểm tra và được xác định bị ung thư vú. “Lúc bác sĩ kết luận tôi bị ung thư vú, tôi lại nghĩ bác sĩ ghi nhầm vì đàn ông ai lại mắc bệnh này bao giờ? Tôi đã không tin vào kết quả đó, rồi đi kiểm tra ở nhiều bệnh viện khác nhau nhưng mọi nơi đều chung một kết luận tôi bị ung thư vú và bệnh đã sang giai đoạn 2”, ông Tính cho biết.

Không chỉ ông Tính thấy hoài nghi khi được xác định mắc ung thư vú mà rất nhiều đàn ông khi được hỏi về căn bệnh này đều tỏ ra khá bất ngờ. Phần lớn họ đều nghĩ rằng, chỉ nữ giới mới bị ung thư vú, chứ nam giới không cho con bú sao bị ung thư vú được.

Tuy nhiên, các nghiên cứu cho thấy tỉ lệ ung thư vú và tử vong vì căn bệnh này ở đàn ông ngày một tăng. Theo báo cáo của Hiệp hội Ung thư Mỹ, năm 2013 có 2.240 nam giới mắc ung thư vú và 410 người tử vong. Trong 25 năm qua, tỉ lệ ung thư vú nam giới trên thế giới tăng 26%. Còn ở Việt Nam, theo công bố trong một nghiên cứu về ung thư vú của Bệnh viện Ung bướu TPHCM, ung thư vú ở nam giới là ung thư hiếm gặp, nhưng cũng đã xuất hiện rải rác hàng năm với 27 ca đến bệnh viện điều trị. Đồng thời cho thấy, 74% nam giới phát hiện mình bị ung thư vú ở giai đoạn muộn II, III.

Theo BS Nguyễn Văn Định, nguyên Trưởng khoa Ngoại vú (Bệnh viện K Trung ương) cho rằng, ung thư vú ở nam giới là tình trạng các tế bào ác tính tăng sinh không kiểm soát hình thành nên các khối u. Đây là một bệnh hiếm gặp trong các bệnh lý phát sinh trên cơ thể nam giới. Nam giới chỉ chiếm khoảng 1% trong các trường hợp ung thư vú nhưng mức độ nguy hiểm cao hơn vì tổ chức tuyến vú ít nên thời gian ung thư lan ra cấu trúc lân cận như da, thành ngực... rất nhanh và vì thế họ cũng chuyển nặng nhanh hơn, tiên lượng xấu cao.

Yếu tố nguy cơ gây ung thư vú ở nam giới có thể là chưa bao giờ kết hôn, có nguồn gốc Do thái, đã có bệnh tuyến vú lành tính, chứng vú to, tiền sử có bệnh tinh hoàn (viêm tinh hoàn, tinh hoàn lạc chỗ và tổn thương tinh hoàn) hoặc bệnh gan, tiền sử gia đình bị ung thư vú hoặc đã chiếu xạ thành ngực trước đó.

Thứ 2 là, do nguyên nhân tăng estrogen hoặc thiếu androgen tương đối. Việc uống nhiều rượu gây ra các bệnh về gan như viêm gan, xơ gan… sẽ làm thay đổi nội tiết tố bên trong cơ thể, khiến cho lượng kích thích tố nam androgen bị giảm xuống và làm tăng lượng kích thích tố nữ estrogen cao hơn.

Yếu tố nguy cơ mạnh nhất gây ung thư vú ở nam giới là hội chứng Klinefelter, đây là một căn bệnh hiếm gặp khi có thừa một nhiễm sắc thể X. Những người đàn ông này có nguy cơ ung thư vú cao gấp 50 lần so với những người đàn ông mang kiểu gene bình thường. Hội chứng Klinefelter gây teo tinh hoàn, vú to, tăng nồng độ các chất hướng sinh dục huyết thanh và giảm nồng độ testosteron huyết thanh, từ đó dẫn đến tăng tỷ lệ estrogen/testosteron.

Dấu hiệu không nên bỏ qua

Các nhà chuyên môn cho rằng, nam giới thường có tâm lý chủ quan với nguy cơ mắc bệnh, khi nghi ngờ mắc bệnh thường có tâm lý e ngại không đi khám và điều trị. Bởi vậy khi phát hiện bệnh đã chuyển sang giai đoạn nặng, các cục u vú đã xâm lấn ra các vùng xung quanh dẫn đến việc điều trị bệnh khó khăn.

Các dấu hiệu bệnh ung thư vú ở nam giới rất rõ ràng nhưng nam giới hay bỏ qua. Triệu chứng điển hình là có một cục cứng ở dưới quầng vú, có thể chỉ xuất hiện ở một bên vú, đôi khi nằm ở 1/4 trên ngoài của vú. Khối u của ung thư thường không đau. Các dấu hiệu khác gồm tụt đầu vú hoặc xuất tiết dịch ở đầu núm vú, loét đầu vú, loét da vú, dính da, cơ, sờ thấy hạch nách. Ngoài ra, ung thư vú còn có biểu hiện tấy đỏ bất thường xung quanh khu vực vú. Cánh mày râu thường chủ quan với triệu chứng này bởi cho rằng, sự tấy đỏ đó có thể là do va chạm, dị ứng. Thực tế tình trạng này kéo dài, kèm theo ngứa, đau nên khẩn trương đi khám.

GS.TS Nguyễn Bá Đức, Phó Chủ tịch Hội Ung thư Việt Nam khuyến cáo, mặc dù ung thư vú là căn bệnh ung thư có thể chữa khỏi nhiều nhất trong số các loại bệnh ung thư nhưng việc di căn tế bào ung thư vẫn không thể tránh khỏi. Kết quả điều trị hiệu quả hay không phụ thuộc rất nhiều vào việc phát hiện bệnh sớm hay muộn. Nếu phát hiện ở giai đoạn một thì cơ hội chữa khỏi lên tới 90%, phát hiện ở giai đoạn 2 thì cơ hội chữa khỏi bệnh là 80%; ở giai đoạn 3 là 60%. Khi ở giai đoạn muộn thì chỉ có thể chăm sóc giảm nhẹ.

Về nguyên lý điều trị cũng gần giống như ở nữ. Ở nữ giới, ung thư vú có thể được điều trị bảo tồn để giữ lại được tuyến vú, còn ở nam giới, phải cắt bỏ toàn bộ tuyến vú và nạo vét hạch nách. Tùy từng trường hợp, bệnh nhân sẽ được chỉ định điều trị kết hợp hóa trị và xạ trị. Ngoài ra, có thể điều trị nội tiết cho nam giới nếu như có đáp ứng tốt.

Để phòng ngừa bệnh, nam giới cần vệ sinh sạch sẽ vùng ngực, hình thành thói quen đi khám sức khỏe định kỳ. Ngoài ra, cần để ý những bất thường xung quanh ngực, khi thấy các biểu hiện như trên cần lập tức đi khám để được chẩn đoán, điều trị kịp thời.

Cách chẩn đoán ung thư vú nam

Khi nghi ngờ có khối u ở vú, nam giới cần đi khám để được chẩn đoán mô học:

- Chụp tuyến vú cho kết quả bất thường ở 80-90% bệnh nhân nam bị ung thư vú và thường có thể giúp phân biệt ung thư vú với chứng vú to.

- Chọc hút tế bào bằng kim nhỏ.

- Nếu chọc hút tế bào bằng kim nhỏ không lấy được đủ bệnh phẩm hoặc không thể thực hiện được, có thể sinh thiết kim hoặc sinh thiết mở để có đủ lượng bệnh phẩm cho chẩn đoán mô bệnh học và xét nghiệm thụ cảm nội tiết.

BS Nguyễn Văn Định

Hà My/http://giadinh.net.vn

Wednesday, 14 September 2016 09:12

Tăng men gan tiềm ẩn nguy cơ ung thư

Tăng men gan là dấu hiệu cảnh báo các tế bào gan đang viêm hoặc hoại tử, nếu không kiểm soát tốt sẽ tiến triển thành viêm gan, xơ gan, thậm chí ung thư gan.

Nhiều người chủ quan với tăng men gan, viêm gan. Hiểu biết về bệnh lý này sẽ giúp bệnh nhân tránh được nhiều biến chứng nguy hiểm.

Trong hơn 40 năm công tác, Giáo sư, Tiến sĩ, bác sĩ Nguyễn Khánh Trạch - Chủ tịch Hội Nội khoa Việt Nam gặp rất nhiều bệnh nhân tăng men gan, viêm gan nhưng chủ quan không điều trị hoặc điều trị không đến nơi đến chốn... Tham gia chương trình “Tư vấn chống độc, giải độc, bảo vệ gan” trên VnExpress diễn ra từ ngày 6/9 đến 14/9, ông cũng nhận thấy nhiều độc giả biết mình tăng men gan, viêm gan sau khi xét nghiệm máu, song chưa lường được các biến chứng nghiêm trọng nên chủ quan chưa có biện pháp điều trị tận gốc.

Men gan tăng báo hiệu gan hư tổn

Theo Giáo sư Trạch, men gan là tên gọi chung của các loại enzym trong tế bào gan gồm AST (SGOT), ALT (SGPT), LDH, GGT. Chúng có vai trò tổng hợp và chuyển hóa protid, gluxit và lipid trong gan. Bình thường, khi các tế bào gan già và chết đi, sẽ giải phóng các enzym này vào máu và làm tăng men gan trong ngưỡng nhất định. Tuy nhiên, khi số lượng tế bào gan chết nhiều hơn, men gan sẽ tăng cao bất thường. Lúc này cũng có nghĩa gan đã mắc các bệnh như viêm, xơ, thậm chí ung thư.

tang-men-gan-tiem-n-nguy-co-ung-thu

Men gan tăng cao ẩn chứa nhiều biến chứng nguy hiểm, kể cả xơ gan, ung thư gan.

Giáo sư Trạch cho biết, với tình trạng sử dụng rượu bia và tỷ lệ người nhiễm virus viêm gan B, C thuộc hàng cao nhất thế giới, Việt Nam hiện có số người bị viêm gan, tăng men gan ở mức cao.

Bệnh viêm gan gồm 2 loại: viêm gan cấp tính và mạn tính (kéo dài trên 6 tháng). Ngoài tác nhân virus và rượu bia, tỷ lệ bệnh nhân viêm gan mạn tính do độc tố trong thực phẩm bẩn, thuốc điều trị, ô nhiễm môi trường, ký sinh trùng… đang ngày càng gia tăng.

Viêm gan do bất kỳ nguyên nhân nào đều dẫn đến tình trạng hoại tử tế bào gan, được đặc trưng bởi chỉ số men gan cao. Các tế bào gan chết đi có thể gây ra "hiệu ứng domino", đẩy nhanh quá trình viêm và hoại tử tế bào gan, khiến gan tổn thương không có điểm dừng và men gan càng tăng cao.

Chẳng hạn, enzym GGT trong máu thường tăng ở người bị viêm gan do nghiện bia rượu, lượng enzyme này tăng tỷ lệ thuận với số rượu mà bạn uống. Trong khi đó, chỉ số AST và ALT cao cảnh báo giảm dần tuổi thọ. AST cao gấp đôi làm tăng 32% nguy cơ tử vong, gấp 3 trở lên thì nguy cơ có thể đến 78%. Tương tự, ALT làm tăng 21% và 59% nguy cơ tử vong nếu chỉ số leo gấp đôi hoặc hơn nữa. Nếu men gan tăng bất thường do tế bào gan chết hàng loạt sẽ kích hoạt tăng sinh tế bào gan mới, đẩy cao nguy cơ đột biến tự phát dẫn đến ung thư gan.

Giáo sư Trạch cảnh báo, khoảng 57% ca xơ gan và 78% ca ung thư gan tiên phát là do nhiễm virus viêm gan mạn tính. Bệnh nhân nhiễm virus viêm gan B phải đối mặt với ung thư gan cao gấp 200 lần người bình thường. Quỹ Chăm sóc Gan Mỹ cũng thống kê, khoảng 35% người nghiện bia rượu mắc viêm gan, 55% trong số này sẽ chuyển thành xơ gan.

Khi gan hư hỏng sẽ không thực hiện được các vai trò quan trọng, đặc biệt là giảm hoặc không còn khả năng giải độc thì toàn cơ thể sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Điều trị khi chưa quá muộn

Việc điều trị bệnh viêm gan, tăng men gan kịp thời rất quan trọng. Đây cũng là giải pháp duy nhất để ngăn chặn biến chứng thành xơ, ung thư gan. Người bệnh nên thăm khám lá gan định kỳ, theo dõi chỉ số men gan, đặc biệt chú ý khi cơ thể có các dấu hiệu bệnh gan tăng nặng như mệt mỏi, ăn không tiêu, chán ăn, vàng da…

Theo Giáo sư Trạch, mặc dù viêm gan, men gan tăng cho thấy cơ quan này đã hư hại, tế bào gan hoại tử, song nếu có biện pháp khắc phục tận gốc ở giai đoạn này gan vẫn có thể phục hồi khả năng hoạt động bình thường. Bệnh viêm gan có thể khỏi nếu tuân thủ phác đồ điều trị của bác sĩ, thay đổi lối sống tích cực, tránh rượu bia, thuốc lá, tập luyện và ăn uống khoa học…

Tuy nhiên, nếu viêm gan ở giai đoạn muộn, các tế bào gan bị xơ hoá và hoại tử nghiêm trọng, hình thành những nốt gan bất thường thì mọi cách điều trị, can thiệp lúc này chỉ làm chậm tốc độ xơ hoá, còn bệnh thì gần như hết đường cứu chữa.

tang-men-gan-tiem-n-nguy-co-ung-thu-1

Tinh chất Wasabia và S. Marianum thiên nhiên (có trong Hewel) kiểm soát tế bào Kupffer, làm giảm sản sinh các chất gây viêm như Interleukin, TNF-α, TGF-β… sau 24 giờ, tăng protein Nrf2 bảo vệ cơ thể.

Giáo sư Trạch dẫn các nghiên cứu mới gần đây cho thấy, nguy cơ viêm gan mạn tính tiến triển thành xơ gan sẽ càng cao nếu tế bào Kupffer nằm trong xoang gan bị kích hoạt và sản sinh nhiều chất gây viêm như Interleukin, TNF-α, TGF-β… Chính các chất gây viêm này sẽ làm tổn thương và chết tế bào gan trên diện rộng, thúc đẩy quá trình sản sinh mô sợi gây xơ hóa gan, làm thay đổi cấu trúc khiến gan chai cứng dần và không có khả năng phục hồi. 

Từ các nghiên cứu chuyên sâu, các nhà khoa học Mỹ đã phát hiện 2 tinh chất là Wasabia và S. Marianum thiên nhiên có tác dụng kiểm soát tế bào Kupffer, giúp hạn chế quá trình sản sinh các chất gây viêm làm hại gan, ngăn ngừa sự tiến triển từ viêm gan, tăng men gan đến xơ gan, ung thư gan và tăng cường sức mạnh giải độc, chống độc cho gan.

An San/http://suckhoe.vnexpress.net

Sử dụng kết quả sinh thiết, tiếp cận mục tiêu một cách ngẫu nhiên, một thử nghiệm mới cho thấy bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn muộn (NSCLC) có KRAS thể hoang dại đáp ứng tốt hơn với phác đồ có chứa erlotinib, trong khi các bệnh nhân có đột biến gen KRAS có kết quả tốt hơn khi không sử dụng erlotinib và với các chất ức chế MEK và AKT.

Theo bác sỹ Vassiliki Papadimitrakopoulou thuộc Trung tâm Ung thư Anderson trường đại học Texas ở Houston "Sự phát triển nhanh chóng của việc phân tích ge đã nhanh chóng nâng cao sự hiểu biết của chúng ta về sự đa dạng của ung thư phổi và đã tạo ra động lực cho việc ứng dụng kết quả phân tích gen như một hướng dẫn cho thực hành lâm sàng ở bệnh nhân ung thư phổi và giúp thiết kế các mô hinh mới trong các thử nghiệm lâm sàng về gen trị liệu, "

Trước đây, nghiên cứu BATTLE được thiết lập về tính khả thi của việc thực hiện sinh thiết điểm và sử dụng phân tích dấu ấn sinh học theo thời gian thực để hướng dẫn thực hành điều trị. Thử nghiệm BATTLE-2 kết hơp 2 phương pháp đó, và phân ngẫu nhiên 200 bệnh nhân ung thư phỏi không tế bào nhor giai đoạn muộn chưa được điều trị trước đó (27% có đột biến KRAS) vào bốn nhóm nghiên cứu: nhóm một điều trị với erlotinib; nhóm hai điều trị erlotinib kết hợp MK-2206 là thuốc ức chế AKT; nhóm ba điều trị bằng MK-2206 cộngAZD6244( ức chế MEK); và nhóm bốn sử dụng sorafenib. Các kết quả đã được công bố trên tạp chí ung thư lâm sàng (Journal of Clinical Oncology).

Trong 186 bệnh nhân đủ điều kiện để phân tích, tỷ lệ kiểm soát bệnh (DCR) sau 8 tuần là 48%, và trung vị của thời gian sống thêm bệnh không tiến triển (PFS) là 2,0 tháng. Trung vị thời gian sống thêm toàn bộ (OS) là 6,5 tháng, và tỷ lệ sống 1 năm là 28%. Tỉ lệ kiểm soát bệnh trong bốn nhóm tương ứng là 32%, 50%, 53% và 46%. PFS và OS là không có sự khác nhau ở 4 nhóm.

Không có sự liên quan đáng kể được tìm thấy giữa tình trạng đột biến gen KRAS và tỉ lệ kiểm soát bệnh tại thời điểm 8 tuần. Ở những bệnh nhân có đột biến gen KRAS (52 bệnh nhân), PFS kéo dài hơn đáng kể nếu được điều trị bằng liệu pháp mà không chứa erlotinib, với tỷ số nguy cơ (HR) 1.95 ( 95% CI, 1,00-3,77; P = 0,04). Tuy nhiên, trong trường hợp đột biến gen KRAS thể hoang dại không có sự khác biệt về PFS giữa phác đồ có erlotinib và không có erlotinib.

Các bệnh nhân có đột biến KRAS thể hoang dại có thời gian sống thêm toàn bộ (OS) tốt hơn khi được điều trị với phác đồ chứa erlotinib, với tỉ số nguy cơ HR 0,66 (95% CI, 0,45-0,97; P = 0,03). Thời gian song thêm toàn bộ ở các bệnh nhân có đột biến KRAS không có một sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi điều trị với erlotinib. Trong nhóm nghiên cứu một, bệnh nhân có đột biến KRAS có OS ngắn hơn có ý nghĩa so với những người có đột biến KRAS thể hoang dại (5,5 tháng và 11,1 tháng; P = 0,02); không có sự khác biệt như vậy được tìm thấy giữa các nhóm khác.

"Nghiên cứu BATTLE-2 cho thấy lợi ích của việc sử dụng sinh thiết tức thì các khối u như một phương tiện chẩn đoán để lựa chọn liệu pháp trúng đích tốt hơn". Ngoài ra việc sử dụng các dấu ấn sinh học vẫn cần thiết trong định hướng điều trị tốt hơn bệnh ác tính, các thông tin từ BATTLE-2 sẽ được sử dụng để hướng dẫn điều trị.

BS. Bùi Tiến Công (dịch)

Theo

 

 


Chuẩn bị một ca chụp PET/CT mô phỏng lập kế hoạch xạ trị ung thư tại Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu (Bệnh viện Bạch Mai).

Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ mắc bệnh ung thư cao trên thế giới. Số lượng người mới mắc bệnh ung thư không ngừng tăng qua từng năm và một tỷ lệ rất lớn trong số đó đã tử vong. Điều này thôi thúc những người thầy thuốc cần có các nghiên cứu để tìm ra phương pháp chẩn đoán, điều trị, ngăn chặn hiệu quả căn bệnh đang được coi là “kẻ giết người thầm lặng”.

Cụm công trình “Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật hiện đại về bức xạ ion hóa trong chẩn đoán điều trị ung thư và một số bệnh lý khác” do GS, TS Mai Trọng Khoa, Phó Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai, Giám đốc Trung tâm Y học hạt nhân và ung bướu cùng các cộng sự thực hiện nghiên cứu trong suốt 20 năm vừa giành giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học và Công nghệ năm 2016 đã phần nào đáp ứng được kỳ vọng đó. Trong lĩnh vực y tế, bức xạ ion hóa được sử dụng chủ yếu ở ba chuyên ngành: điện quang, y học hạt nhân và ung bướu (xạ trị ung thư). Các thiết bị sử dụng bức xạ ion hóa này phần lớn được ứng dụng cho hai lĩnh vực chính là chẩn đoán và điều trị bệnh. Trong điều trị bệnh ung thư thường phải phối hợp nhiều phương pháp như: phẫu thuật, hóa chất, xạ trị, điều trị đích... trong đó, hơn 50% số người bệnh ung thư ở nước ta có chỉ định sử dụng bức xạ ion hóa để chẩn đoán và điều trị với các kỹ thuật xạ trị chiếu ngoài, chiếu trong, xạ phẫu, xạ trị áp sát, cấy hạt phóng xạ, xạ trị trong chọn lọc... Vì vậy, bên cạnh việc tìm tòi, chọn lọc đưa về ứng dụng một số kỹ thuật hiện đại về bức xạ ion hóa, nhóm nghiên cứu chủ động nghiên cứu các phương pháp phù hợp điều kiện thực tế, phù hợp người Việt Nam để từ đó nâng cao chất lượng chẩn đoán và điều trị bệnh ở giai đoạn phát hiện sớm.

Cụm công trình giành giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học và Công nghệ gồm năm nhóm công trình: Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật chụp cắt lớp phát bức xạ positron (PET/CT) để chẩn đoán ung thư và bệnh sa sút trí tuệ; nghiên cứu ứng dụng một số kỹ thuật xạ trị tiên tiến để điều trị ung thư; nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật xạ phẫu bằng dao gamma quay để điều trị u não và một số bệnh lý sọ não; nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật xạ trị trong chọn lọc, cấy hạt phóng xạ, điều trị miễn dịch phóng xạ và xạ trị áp sát trong điều trị ung thư; nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật miễn dịch phóng xạ và thuốc phóng xạ để chẩn đoán, điều trị ung thư và một số bệnh nội tiết.

Những kết quả nghiên cứu, ứng dụng thực tiễn nêu trên đang được áp dụng thường quy tại Trung tâm Y học hạt nhân và ung bướu Bệnh viện Bạch Mai và nhiều cơ sở y tế khác đã tạo bước ngoặt trong chẩn đoán, điều trị loại bệnh hết sức nguy hiểm đang ngày càng tăng tại nước ta. Nhờ ứng dụng các kỹ thuật mới mà những người thầy thuốc đã chẩn đoán sớm, chính xác, phát hiện các tái phát, di căn, đánh giá chính xác giai đoạn bệnh cũng như đánh giá hiệu quả điều trị đối với một số lượng lớn loại bệnh ung thư khác nhau và một số bệnh lý khác. Trên cơ sở đó đã giúp đưa ra được các phương pháp điều trị chính xác, phù hợp, hiệu quả và an toàn cho bệnh nhân. Điều đáng nói là những kỹ thuật mới đã góp phần giải quyết các khó khăn trong chẩn đoán và điều trị các bệnh nhân ung thư tái phát, di căn, mà các phương pháp điều trị trước đó không đáp ứng được. Những thành công nêu trên đã tạo niềm tin cho nhiều trường hợp mắc bệnh ung thư là người Việt Nam ở lại điều trị trong nước và tạo được uy tín trong khu vực. Nhiều người bệnh ở các nước trong khu vực bị mắc bệnh ung thư và một số bệnh lý khác đã đến điều trị thành công tại Trung tâm Y học hạt nhân và ung bướu Bệnh viện Bạch Mai bằng các kỹ thuật hiện đại nêu trên.

Đến nay, Trung tâm đã thực hiện được hơn 60 nghìn mẫu xét nghiệm bằng kỹ thuật miễn dịch phóng xạ; hơn 60 nghìn người bệnh ung thư các loại được chẩn đoán bằng kỹ thuật PET/CT, SPECT; hơn 3.400 người bệnh u não và một số bệnh lý sọ não được điều trị bằng dao gamma quay, 6.200 người bệnh ung thư được điều trị bằng máy xạ trị gia tốc tuyến tính với kỹ thuật xạ trị điều biến liều và kỹ thuật 3D kết hợp hình ảnh PET/CT hoặc CT mô phỏng; hơn 2.100 trường hợp ung thư tuyến giáp và 1.500 người bệnh bướu tuyến giáp lan tỏa nhiễm độc được điều trị bằng I-131… Ước tính, tổng số tiền tiết kiệm được khi ứng dụng các kỹ thuật của cụm công trình này là 88,45 triệu USD, tương đương gần 2.000 tỷ đồng, chưa kể chi phí đi lại, ăn ở của người bệnh, người nhà người bệnh nếu phải ra nước ngoài khám, chữa bệnh.

Những kết quả nghiên cứu, ứng dụng thực tiễn này đã được phổ biến, đào tạo, chuyển giao cho 18 bệnh viện trong cả nước, góp phần đáng kể vào việc chẩn đoán và điều trị hiệu quả bệnh ung thư ở Việt Nam, tăng tỷ lệ điều trị trong nước, giảm chi phí cho các bệnh nhân ung thư và chi phí xã hội cho việc chẩn đoán và điều trị bệnh. Tổng số sản phẩm khoa học của cụm công trình này bao gồm 154 bài báo trong nước, 13 bài báo quốc tế, 11 báo cáo tại hội nghị quốc tế, 14 đề tài nghiên cứu khoa học các cấp; đào tạo 13 tiến sĩ và tám thạc sĩ... Đồng thời đưa Việt Nam trở thành một trong những nước ứng dụng thành công một số kỹ thuật hiện đại, tiên tiến có sử dụng bức xạ ion hóa trong chẩn đoán và điều trị ung thư.

Minh Hoàng

 

 

Ung thư phổi là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trong các loại bệnh ung thư ở cả nam và nữ. Tuy nhiên đây lại là căn bệnh có thể phòng ngừa nếu thay đổi lối sống, phát hiện sớm điều trị có kết quả cao.

Nguyên nhân gây ung thư phổi

Trong lịch sử, y văn thế giới đã ghi nhận bệnh ung thư phổi rất ít khi xảy ra cho đến khi thuốc lá xuất hiện. Đây là nguyên nhân hàng đầu gây ung thư phổi. Cứ 10 người ung thư phổi thì có tới 9 trường hợp liên quan đến thuốc lá, do hút thuốc chủ động hoặc bị động (hít phải khói thuốc lá).

Ngoài ra còn một số nguyên nhân có thể gây ung thư phổi là do ô nhiễm môi trường, hóa chất, hoặc do hít phải khí radon. Khí radon là loại khí sinh ra từ sự phân rã phóng xạ urani. Loại khí này có ở hầu khắp mọi nơi trong lớp vỏ trái đất, nó thoát ra ngoài qua các vết rạn và lỗ trống rất nhỏ trên mặt đất và khuyếch tán vào không khí. Khí radon không thể nhìn thấy bằng mắt thường nhưng có thể xác định được bằng máy đo chuyên dụng.

Phổi hoạt động như thế nào

Phổi ở người bao gồm nhiều sợi lông mao nhỏ, những sợi lông này bảo vệ phổi quét sạch các độc tố, vi khuẩn từ bên ngoài vào đường hô hấp. Khi hút thuốc, khói thuốc lá làm các lông mao bị vô hiệu hóa chức năng của mình, các hóa chất trong thuốc lá xâm nhập vào phổi và gây bệnh.

Các triệu chứng của ung thư phổi

Những dấu hiệu đầu tiên của bệnh ung thư phổi bắt đầu lặng lẽ, thường là không có triệu chứng hoặc dấu hiệu cảnh báo trong giai đoạn đầu. Khi bệnh trở nên nặng hơn, các triệu chứng có thể xuất hiện bao gồm:

- Ho dai dẳng.

- Đau ngực, đặc biệt là khi hít thở sâu.

- Thở khò khè hoặc khó thở.

- Ho có đờm hoặc máu.

- Mệt mỏi.

Sàng lọc ung thư phổi

Ung thư phổi có thể được phát hiện sớm bằng chụp CT. Ở Mỹ, có một số đối tượng được khuyên đi sàng lọc ung thư phổi như những người hút thuốc hay có người thân nghiện thuốc, sống trong môi trường ô nhiễm, những người từ 55 đến 80 tuổi được khuyến cáo đi sàng lọc ung thư phổi. Nếu bệnh nhân có tiền sử hút thuốc lá nên định kỳ đi kiểm tra sức khỏe phổi. Ở những người trẻ nếu dừng hút thuốc trong vòng 15 năm có thể ngừng khám sàng lọc ung thư phổi.

Chẩn đoán ung thư phổi

Trong hầu hết các trường hợp, khi bác sĩ nghi ngờ bệnh nhân mắc ung thư phổi với các triệu chứng điển hình như ho mãn tính hoặc thở khò khè, lúc đó, bác sĩ sẽ cho người bệnh đi chụp X-quang hoặc các xét nghiệm hình ảnh khác. Bệnh nhân cũng có thể được yêu cầu xét nghiệm đờm. Nếu một trong các xét nghiệm cho thấy xuất hiện dấu hiệu của ung thư, bước tiếp theo bác sĩ sẽ tiến hành sinh thiết phổi.

Các loại ung thư phổi

Có hai loại chính của ung thư phổi là ung thư phổi tế bào nhỏ và ung thư phổi không phải tế bào nhỏ. Ung thư phổi tế bào nhỏ là loại ung thư phát triển nhanh, nó có thể lây lan nhanh đến các bộ phận khác của cơ thể. Loại ung thư này thường xuất hiện ở người sử dụng thuốc lá và hiếm thấy ở người không hút thuốc. Ung thư phổi không phải tế bào nhỏ phát triển chậm hơn và phổ biến hơn, đây là loại ung thư ít xâm lấn hơn loại trên. Trong các bệnh ung thư phổi có đến 85% những người ung thư phổi thuộc loại ung thư không tế bào nhỏ. Loại ung thư này nếu phát hiện sớm, phẫu thuật, xạ trị hay hóa trị có thể chữa khỏi căn bệnh này.

Các giai đoạn ung thư phổi

Mỗi loại ung thư phổi có cách xâm lấn khác nhau trong cơ thể. Như ung thư phổi tế bào nhỏ được chia thành hai giai đoạn: Giai đoạn giới hạn có nghĩa là ung thư được giới hạn trong một phổi và các hạch bạch huyết có thể ở gần vị trí khối u. Giai đoạn ung thư lan rộng có nghĩa là ung thư đã lan rộng khắp phổi hoặc ra các bộ phận khác. Ung thư phổi không phải tế bào nhỏ được chia thành từ 1 đến 4 giai đoạn, tùy thuộc vào việc khối u lan rộng đến đâu.

Tuổi thọ của bệnh nhân ung thư phổi đang ngày càng tăng lên

Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật cũng như công nghệ y dược học, thời gian sống của bệnh nhân ung thư phổi đang được kéo dài hơn so với trước. Thống kê mới nhất của Viện Ung thư Quốc gia của Mỹ cho thấy từ năm 2004 đến năm 2010, những người được chẩn đoán ung thư phổi sống sau 5 năm tăng từ 4% lên 54%, tùy thuộc vào giai đoạn của bệnh.

Các cách điều trị ung thư phổi

Nếu bệnh nhân mắc ung thư phổi không phải tế bào nhỏ được phát hiện trước khi nó lan sang các bộ phận khác của cơ thể hoặc mới chỉ xuất hiện ở một bên phổi, phẫu thuật là biện pháp tốt nhất. Các bác sĩ phẫu thuật có thể loại bỏ phần có khối u. Một số bệnh nhân được xạ trị hoặc hóa trị sau phẫu thuật để diệt các tế bào ung thư còn lại. Đối với bệnh ung thư phổi tế bào nhỏ phẫu thuật dường như không có giá trị vì tại thời điểm chẩn đoán, ung thư có thể đã lan sang các cơ quan khác của cơ thể.

Khi ung thư phổi di căn

Khi ung thư phổi đã di căn các bác sĩ vẫn có thể chữa trị để giúp bệnh nhân kéo dài cuộc sống và có chất lượng cuộc sống tốt hơn. Bức xạ hoặc hóa trị liệu có thể thu nhỏ khối u và điều trị các triệu chứng, như đau xương hoặc khó thở. Hóa trị biện pháp duy nhất và thường xuyên được áp dụng ở các bệnh nhân bị bệnh ung thư phổi tế bào nhỏ.

Điều trị bằng phương pháp nhắm mục tiêu

Phương pháp điều trị nhắm mục tiêu là một phương thức điều trị mới của ung thư phổi, nó có thể được sử dụng cùng với hóa trị liệu hoặc khi các phương pháp điều trị khác không hiệu quả. Phương pháp nhắm mục tiêu là nhằm chặn các mạch máu tới nuôi dưỡng tế bào ung thư ở khối u. Nó có thể giúp bệnh nhân ung thư phổi sống lâu hơn. Phương pháp điều trị nhắm mục tiêu có thể làm gián đoạn các tín hiệu chịu trách nhiệm nhân lên trong tế bào ung thư trong hình ảnh ở trên.

Theo Sức khỏe & Đời sống

Cứ 100.000 dân Hà Nội thì 40 người được chẩn đoán bị ung thư phổi, tại TP HCM tỷ lệ này là 30. Hơn 20.000 người ung thư phổi mỗi năm ở Việt Nam, 17.000 ca tử vong. 

Ung thư phổi và gan được đánh giá là 2 trong 10 loại ung thư phổ biến nhất khu vực Đông Nam Á cũng như tại Việt Nam. Ở nước ta tình hình bệnh ung thư phổi khá nặng nề, số bệnh nhân ngày càng tăng. Tại Hà Nội, ước tính trong 100.000 người dân thì có 40 người được chẩn đoán bị ung thư phổi, trong khi đó tại TP HCM con số này là 30 người. 

Bệnh ung thư có thể được điều trị dứt điểm nếu được phát hiện sớm. Ví dụ người ung thư phổi được phát hiện ở giai đoạn 1, tỷ lệ sống sót lên tới 70%. Nếu được phẫu thuật ở giai đoạn sớm, tỷ lệ sống sau 5 năm ở bệnh nhân ung thư phổi có thể đạt 40-50%. Bệnh nhân ung thư phổi giai đoạn muộn (không còn khả năng phẫu thuật), tỷ lệ tử vong trong vòng 6 tháng tới một năm là 90%.

ungthuphoi1-8285-1443060642.gif

Thuốc lá là nguyên nhân hàng đầu gây ung thư phổi. Ảnh: Redorbit.

Phần lớn bệnh nhân ở Việt Nam được phát hiện ở giai đoạn muộn, không còn khả năng điều trị triệt để. Chỉ 10-20% số ca bệnh được phát hiện khi còn có khả năng cắt bỏ khối u.

Ở giai đoạn sớm, các triệu chứng ung thư phổi thường rất nghèo nàn và không đặc hiệu, khiến cho việc chẩn đoán hết sức khó khăn. Ho là triệu chứng thường gặp nhất (70-90% số ca bệnh). Tuy nhiên ho cũng xuất hiện trong nhiều bệnh lý khác nên bệnh nhân và thậm chí cả thầy thuốc cũng ít nghĩ tới ung thư phổi khi có triệu chứng này. Ung thư phổi giai đoạn sớm cũng có thể gây ho ra máu, đau ngực, khó thở, đau khớp xương, khàn tiếng, sụt cân... nhưng các biểu hiện này ít xuất hiện.

Theo giáo sư Mai Trọng Khoa, Giám đốc Trung tâm y học hạt nhân và ung bướu, Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội), ung thư phổi là bệnh lý ác tính, đã có nhiều tiến bộ trong chẩn đoán và điều trị nhưng tiên lượng vẫn còn dè dặt. Bệnh phát triển âm thầm, triệu chứng nghèo nàn hoặc không có triệu chứng.

Dấu hiệu bệnh gợi ý: Thường là nam giới trên 40 tuổi, nghiện thuốc lá, thuốc lào, ho khan kéo dài, có thể có đờm lẫn máu, điều trị kháng sinh không hiệu quả. Giai đoạn tiến triển, triệu chứng đa dạng tùy theo vị trí u, mức độ lan rộng của tổn thương. Người bệnh có thể thấy đau ngực, đau dai dẳng, cố định một vị trí; khó thở khi khối u to, chèn áp, bít tắc đường thở; khó nuốt, nuốt đau; hồi hộp, tim đập nhanh...

Thuốc lá là nguyên nhân hàng đầu gây ung thư phổi. Ước tính 90% trường hợp ung thư phổi là người nghiện thuốc lá. Hút thuốc lá chủ động làm tăng nguy cơ mắc bệnh lên 13 lần. Tiếp xúc lâu dài với khói thuốc lá (hút thuốc bị động) cũng làm tăng nguy cơ.

Để phòng bệnh, không nên hút thuốc lá, có chế độ dinh dưỡng, sinh hoạt, làm việc lành mạnh, cần thăm khám sức khỏe định kỳ, đặc biệt khi có các triệu chứng ho kéo dài, đau ngực... Bệnh khó sàng lọc, phát hiện sớm. Những người có nguy cơ cao (nghiện thuốc lá, thuốc lào) có thể làm xét nghiệm tìm tế bào ác tính trong đờm, xét nghiệm máu tìm một số chất chỉ điểm khối u (CEA, cifra 21-1, SCC...) và chụp X-quang phổi hàng năm. 

Phương Trang

Không có biểu hiện đau đớn gì ngoài ho kéo dài, chụp phim phổi bác sĩ Đỗ Quốc Hùng ở Viện Tim mạch Quốc gia (Hà Nội) phát hiện mình bị ung thư phổi giai đoạn muộn.

Phó giáo sư Đỗ Quốc Hùng, nguyên trưởng phòng C7, Viện Tim mạch Quốc gia (Hà Nội). Câu chuyện về cuộc chiến chống lại căn bệnh ung thư phổi của phó giáo sư Hùng được giáo sư Mai Trọng Khoa, Giám đốc Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu, Phó giám đốc Bệnh viện Bạch Mai chia sẻ như một kỳ tích, một câu chuyện cổ tích giữa đời thường.

Phó giáo sư Hùng phát hiện bị ung thư phổi giai đoạn muộn cách đây hơn 5 năm. Khi ấy ho kéo dài 3-4 tuần, uống thuốc mãi không khỏi, bác sĩ Hùng đi chụp chiếu thì phát hiện khối u ở phổi. Kết quả này khiến bản thân bác sĩ Hùng và nhiều đồng nghiệp rất ngạc nhiên vì trước đó ông vẫn khỏe mạnh, không đau đớn gì ngoài việc ho kéo dài. Đến khi phát hiện thì căn bệnh ung thư đã di căn tràn lan đến cột sống, tủy xương... Một thời gian sau, khối u di căn lên não.

ungthu11-3237-1472651583.jpg

Giáo sư Mai Trọng Khoa, Giám đốc Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu, Phó Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai, chia sẻ về căn bệnh của người đồng nghiệp Đỗ Quốc Hùng.

Giáo sư Khoa cho biết, tình trạng bệnh bác sĩ Hùng khi đó đã muộn, khối u trên não không thể mổ được, nếu mổ chắc chắn tử vong. Trên lý thuyết, những trường hợp này chỉ có thể điều trị triệu chứng, chăm sóc giảm nhẹ. Tuy nhiên, với nghị lực, tuân thủ phác đồ điều trị tuyệt đối cộng với áp dụng những kỹ thuật tiên tiến nhất như chụp PET/CT, xạ phẫu bằng dao gamma quay..., bác sĩ Hùng đã chiến thắng được căn bệnh, toàn bộ khối u không còn.

Các bác sĩ đã áp dụng phối hợp nhiều phương pháp khác nhau cho người đồng nghiệp, cả điều trị hóa chất, thuốc trúng đích… để xử lý khối u ở nhiều vị trí khác nhau. Với ung thư, bệnh nhân sống sót sau 5 năm phát hiện bệnh đã được coi là khỏi bệnh. "Trường hợp bác sĩ Hùng điều trị khỏi bệnh khi đã ở giai đoạn cuối thực sự là một kỳ tích với ngành y Việt Nam và cả bản thân bệnh nhân", giáo sư Khoa nhận xét.

Theo giáo sư Khoa, các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh hiện tại chỉ phát hiện được tổn thương khi khối u đã hình thành và có kích thước đủ lớn. Kỹ thuật chụp PET/CT- chụp cắt lớp phát bức xạ positron giúp phát hiện u khi các công cụ khác không phát hiện được. Nó giúp bác sĩ chẩn đoán chính xác giai đoạn bệnh, khối u đã di căn như thế nào.

Bên cạnh đó, các bác sĩ cũng sử dụng hình ảnh PET/CT để mô phỏng kế hoạch xạ trị. Vị trí khối u được xác định rõ nên kỹ thuật viên hướng chùm tia xạ sát vào khối u, che các vùng tổn thương lành xung quanh. Nhờ đó hiệu quả điều trị cao hơn, không bỏ sót tổn thương.

Với khối u ở não như trường hợp phó giáo sư Hùng, ca mổ là điều hầu như không thể thực hiện. Thay vào đó, bệnh nhân được xạ phẫu bằng dao gamma quay. Các chùm tia mạnh hội tụ vào một điểm khối u, bảo vệ các tổ chức lành. Kỹ thuật này được áp dụng điều trị cho những u ở vị trí không thể mổ được, đã mổ nhưng tái phát, tổn thương nhỏ ở sâu bên trong… 

Nguồn Vnexpress.net

Ở giai đoạn sớm, ung thư thực quản thường không có biểu hiện triệu chứng; khi khối u phát triển, người bệnh có thể thấy nuốt đau, khó nuốt, sút cân, ho kéo dài, ho ra máu…

Thực quản là ống tiêu hóa dẫn thức ăn và các chất lỏng đi từ họng xuống dạ dày. Thực quản nằm ngay sau khí quản. Ở người trưởng thành thực quản dài khoảng 25 cm.

Ung thư xuất phát từ thực quản bao gồm hai dạng chính là ung thư biểu mô vảy và ung thư biểu mô tuyến tùy thuộc vào loại tế bào ung thư. Nó cũng có thể xâm lấn ra hầu hết bộ phận khác của cơ thể bao gồm gan, phổi, não, xương...

6-dau-hieu-nhan-biet-ung-thu-thuc-quan

Theo các bác sĩ Bệnh viện K Trung ương (Hà Nội), ở giai đoạn sớm, ung thư thực quản thường không có biểu hiện triệu chứng. Tuy nhiên khi khối u phát triển, có thể xuất hiện các dấu hiệu:

- Nuốt đau, nuốt khó.

- Gầy sút cân nhiều.

- Đau họng hoặc lưng, phía sau xương ức hoặc hai xương bả vai.

- Rát họng hoặc ho kéo dài.

- Nôn.

- Ho ra máu.

Các triệu chứng này có thể do ung thư thực quản gây ra hoặc do một căn bệnh khác. Nếu xuất hiện các triệu chứng này, bạn cần phải đến bác sĩ để kiểm tra sức khỏe.

Để chẩn đoán ung thư thực quản, bác sĩ thường chỉ định bệnh nhân thực hiện các xét nghiệm như chụp ảnh thực quản có uống thuốc cản quang; nội soi thực quản. Nếu có nghi ngờ vùng bất thường của thực quản, bác sĩ có thể lấy bệnh phẩm tế bào và mô bệnh học làm giải phẫu bệnh, từ đó nhìn thấy tổ chức ung thư hoặc các bất thường dẫn đến ung thư hay tổn thương khác.

Phác đồ điều trị bệnh phụ thuộc một số yếu tố như kích thước, vị trí, sự lan tràn khối u và tình trạng chung của bệnh nhân. Phẫu thuật là biện pháp chủ yếu điều trị ung thư thực quản. Thông thường khối u được mổ lấy cùng với một phần hoặc toàn bộ thực quản, tổ chức bạch huyết kế cận và các tổ chức khác trong vùng. Phần còn lại của thực quản sẽ được nối với dạ dày giúp bệnh nhân vẫn tiếp tục nuốt như bình thường. Trong một số trường hợp đoạn nối có thể được tạo bởi một đoạn ruột non hoặc một ống nhựa. Bên cạnh đó, còn các phương pháp như xạ trị, hóa trị, điều trị laser, điều trị quang động học…

Cách tốt nhất dự phòng bệnh là từ bỏ hoặc không bao giờ hút thuốc lá, hạn chế uống rượu. Các nhà nghiên cứu vẫn tiếp tục tìm kiếm các khả năng làm giảm nguy cơ bị ung thư thực quản bằng cách thay đổi chế độ ăn, tăng lượng rau và hoa quả ăn hàng ngày.

Hà An

Nghiên cứu được công bố trên tạp chí PLoS đã theo dõi gần 74.000 phụ nữ sau mãn kinh và thấy rằng cứ mỗi 10 năm bị thừa cân, nguy cơ ung thư liên quan đến béo phì ở phụ nữ có thể tăng đến 7%.

Đây là nghiên cứu đầu tiên xem xét mối liên quan giữa thời gian béo phì và nguy cơ ung thư ở một nhóm phụ nữ lớn.

Các nhà nghiên cứu đã kiểm tra dữ liệu từ một nghiên cứu lớn có tên Sáng kiến Sức khỏe Phụ nữ Mỹ (WHI), để tìm ra mỗi liên quan đáp ứng - liều hoặc đáp ứng-phơi nhiễm giữa thời gian có chỉ số khối cơ thể (BMI) cao và nguy cơ của nhiều loại ung thư khác nhau.

BMI - được sử dụng bởi các tổ chức quốc tế như Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) để xác định giới hạn cân nặng bình thường theo chiều cao của một người - được tính bằng cách chia trọng lượng theo kg cho bình phương chiều cao tính bằng mét.

Số liệu của WHI trải dài hơn 12 năm và trong thời gian đó, có 6.301 người trong số 73.913 phụ nữ tham gia có chẩn đoán ung thư liên quan đến béo phì – gồm ung thư vú, đại tràng và trực tràng, và nội mạc tử cung.

Nhóm nghiên cứu đứng đầu là Melina Arnold, một nhà khoa học tại Cơ quan nghiên cứu ung thư quốc tế của WHO, đã tính đến các yếu tố khác liên quan đến béo phì, như hoạt động thể chất, chế độ ăn, hút thuốc lá, sử dụng hoóc môn và bệnh tiểu đường.

Kết quả cho thấy cứ mười năm thừa cân sẽ liên quan đến tăng 7% nguy cơ của tất cả các ung thư liên quan đến béo phì, tăng 5% nguy cơ ung thư vú sau mãn kinh, và nguy cơ phát triển ung thư nội mạc tử cung tăng 17%. Sau khi hiệu chỉnh chính xác số cân thừa, con số tăng lên 8% đối với ung thư vú sau mãn kinh và 37% đối với ung thư nội mạc tử cung.
"Đây là điều hợp lý về mặt sinh học, vì thời gian thừa cân và béo phì sớm hơn và dài hơn đã được thấy là có liên quan với tăng nguy cơ và mức độ nặng của cao huyết áp, kháng insulin, viêm mạn tính, tổn thương ADN và những thay đổi trong chuyển hóa hoóc môn, tất cả đều là những cơ chế quan trọng cũng làm tăng nguy cơ ung thư".
"Chúng tôi cũng đã chỉ ra trong nghiên cứu rằng nguy cơ phát triển những ung thư này không chỉ phụ thuộc vào thời gian thừa cân mà còn vào mức độ thừa cân theo thời gian," Arnold nói thêm. "Đây là lý do tại sao rất khó đưa ra kết luận chung về nguy cơ ung thư tăng bao nhiêu với mỗi năm thừa cân hoặc béo phì".

Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu đã cảnh báo rằng chỉ số BMI không phải là số đo hoàn hảo cho lượng mỡ cơ thể và các dữ liệu WHI chủ yếu bao gồm thông tin về phụ nữ da trắng không phải gốc Mỹ La tinh và điều này có thể "giới hạn việc khái quát hóa kết quả".

" Nếu điều này là đúng thì các chuyên gia cần thừa nhận tiềm năng của việc quản lý béo phì trong phòng chống ung thư và rằng cần quản lý tình trạng thừa cân ở phụ nữ bất kể độ tuổi của bệnh nhân ", các tác giả nghiên cứu kết luận.

Cẩm Tú-Theo MSN

Tem dan Don vi Gen tri lieu 1

logo vinmec

Tiêu điểm

Hỗ trợ  

Joomla Templates and Joomla Extensions by ZooTemplate.Com
Hotline: 1900575758 phím 2

Clip

Đối tác chiến lược

chung cư imperia garden

Quảng cáo

Banner

Hình ảnh tiêu biểu

Đối tác chiến lược

chung cư imperia garden

Thống kê

Members : 5217
Content : 1268
Web Links : 3
Content View Hits : 358350