Thursday, 31 May 2018 08:32

Công cụ “LUNG - RADS” trong tầm soát và phát hiện sớm ung thư phổi

Read 338 times

Công cụ “LUNG - RADS” trong tầm soát và phát hiện sớm ung thư phổi

BSNT. Nguyễn Tiến Đồng (Tham khảo, tổng hợp và dịch)

Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu, Bệnh viện Bạch Mai

 

3303

Ung thư phổi (UTP) không những là bệnh ung thư phổ biến nhất mà còn là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu do ung thư ở Việt Nam cũng như trên toàn thế giới. Năm 2012, trên toàn cầu số người mới mắc ung thư khoảng 14,1 triệu trong đó ung thư phổi chiếm 1,8 triệu (13% tổng số ung thư); số tử vong hàng năm do ung thư là 8,2 triệu thì riêng UTP chiếm 1,6 triệu (khoảng 19,4% tổng số chết do ung thư). Ung thư phổi là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở cả hai giới, tỷ lệ sống sau 5 năm chỉ khoảng 16,8%. Với tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong cao, việc sử dụng các công cụ để tầm soát, phát hiện sớm ung thư phổi đã được đặt ra cách đây khoảng nửa thế kỷ. Vậy các đối tượng nguy cơ cao nào cần phải tầm soát bệnh?

Cho đến thời điểm hiện tại. Với lịch sử nửa thế kỷ của các nghiên cứu về sàng lọc và phát hiện sớm ung thư phổi với ban đầu là X quang ngực không cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa trong việc sàng lọc. Sau đó đến những năm 70 của thế kỷ trước các nhà nghiên cứu tìm cách xét nghiệm đờm để phát hiện tế bào ác tính nhưng cũng không mang lại lợi ích [1].

Khoảng thời gian sau đó việc tìm kiếm một giải pháp để tầm soát sớm ung thư phổi vẫn được thực hiện nhưng không mang lại ý nghĩa thực tiễn trên lâm sàng. Cho đến khi có các dữ liệu từ nghiên cứu tầm soát ung thư quốc gia (National Lung Screening Trial) thì chụp cắt lớp vi tính liều thấp lồng ngực (Low dose computed tomography- LDCT) đã chứng minh hiệu quả, từ đó chụp cắt lớp vi tính liều thấp được Hội phẫu thuật lồng ngực Hoa Kỳ (American Association for Thoracic Surgery-AATS) đưa vào khuyến cáo từ năm 2012 [1], [2].

Gần đây việc cá thể hóa bệnh nhân thì xét nghiệm gen cũng được quan tâm, tuy nhiên ở thời điểm hiện tại chưa được chứng mình có ý nghĩa sàng lọc, tư vấn di truyền cho bệnh nhân và người nhà bệnh nhân ung thư phổi. Vậy nên chụp cắt lớp vi tính liều thấp lồng ngực vẫn gần như là công cụ duy nhất được khuyến cáo để sàng lọc và phát hiện sớm ung thư phổi.

Theo các khuyến cáo được sử dụng nhiều trong thực hành lâm sàng thì các bệnh nhân có nguy cơ như sau cần phải tầm soát ung thư phổi.

Nhóm 1:

- Tuổi: 55 – 74 tuổi có tiền sử hút thuốc từ trên 30 bao/năm có thể hiện tại vẫn tiếp tục hút hoặc người đã bỏ thuốc lá trong vòng 15 năm qua.

Nhóm 2:

- Tuổi ≥ 50, có hút thuốc trên 20 bao/năm và có một trong các yếu tố nguy cơ như: Tiền sử gia đình có người bị ung thư phổi, bệnh nhân mắc các bệnh phổi trước đó như: bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD), lao…bệnh nhân hiện đang mắc một bệnh ung thư, phơi nhiễm yếu tố nguy cơ ung thư phổi nhưng không phải hút thuốc lá thụ động.

Vai trò của PET/CT trong sàng lọc và phát hiện sớm ung thư phổi.

Đã có các nghiên cứu nói về vai trò của PET/CT trong đánh giá và tầm soát phát hiện sớm ung thư phổi.

Theo nghiên cứu của U. Pastorino và G. Bastarrika khi kết hợp chụp cắt lớp vi tính liều thấp lồng ngực và PET/CT đánh giá các tổn thương nốt mờ ≥7mm cho thấy độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị dự báo dương tính, giá trị dự báo âm tính của phương pháp lần lượt là: 69%, 91%, 90% và 71%. Các tổn thương sau đó được đánh giá lại sau 3 tháng bằng chụp cắt lớp vi tính liều thấp, nếu không có sự tiến triển thì giá trị dự báo âm tính có thể lên đến 100% [3], [4].

Ứng dụng Lung RADS (Reporting and data system) trong thực hành lâm sàng sàng lọc ung thư phổi.

Thông thường các phân loại nguy cơ trên chẩn đoán hình ảnh hay gặp là BI - RADS (trong tổn thương tuyến vú), TI - RADS (trong tổn thương tuyến giáp)...

Nhưng bên cạnh đó còn có 1 loạt các phân loại của các cơ quan khác với mục đích dự đoán khả năng ác tính của tổn thương như LI - RADS (trong tổn thương tại gan), C - RADS (Trong hình ảnh tổn thương của đại trực tràng trên chụp cắt lớp vi tính).... Và với tổn thương ở phổi có phân loại “Lung - RADS”.

Ý nghĩa của Lung - RADS nhằm mục đích phân tầng nguy cơ các tổn thương khối, nối mờ trên hình ảnh chụp cắt lớp vi tính liều thấp từ đó đưa ra những lời khuyên và tư vấn cho bệnh nhân.

Nội dung Lung - RADS [5]

Các tiêu trí đánh giá căn cứ vào:

- Đặc tính của nốt: Đặc, bán đặc, tổn thương kính mờ, vôi hóa trong nốt.

- Kích thước của các tổn thương.

- Sự xuất hiện của nốt mới trong quá trình theo dõi hay không.

Đọc kết quả:

Loại

Mô tả

Độ

Hình ảnh

Quản lý

Độ ác tính

Tỉ lệ mắc ước tính trong dân số

Không xếp loại

-

0

Chụp cắt lớp vi tính ngực trước để so sánh

Cần thiết bổ sung hình ảnh chụp cắt lớp vi tính lồng ngực và/hoặc so sánh với chụp cắt lớp ngực trước

Không rõ

1%

Không đánh giá được một phần hoặc toàn bộ phổi

Âm tính

Không có nốt hoặc nốt lành tính điển hình

1

Không có nốt ở phổi

Tiếp tục sàng lọc hàng năm với chụp cắt lớp vi tính liều thấp lồng ngực

<1%

90%

Các nốt có vôi hóa đặc hiệu: Vôi hóa toàn bộ, vôi hóa trung tâm, vôi hóa dạng bỏng ngô, vôi hóa dạng vòng tròn đồng tâm hoặc có chứa mỡ.

Hình thái tổn thương lành tính

Nốt nhỏ hoặc tiến triển chậm, khả năng biểu hiện thành u trên lâm sàng rất thấp

2

Các nốt đặc:

< 6mm

Nốt mới < 4mm

Nốt bán đặc:

< 6mm tổng đường kính trên sàng lọc cơ bản

Không phải nốt đặc:

< 20mm hoặc

≥ 20mm nhưng không thay đổi kích thước hoặc tiến triển chậm

 

Độ 3 hoặc 4 khi nốt không thay đổi kích thước trong ≥ 3 tháng

Có khả năng cao lành tính

Có thể phát hiện lành tính cao – theo dõi thời gian ngắn; bao gồm các nốt có khả năng biểu hiện thành u trên lâm sàng rất thấp

3

Các nốt đặc:

≥ 6 và < 8mm hoặc

Nốt mới từ 4mm đến < 6mm

Sàng lọc với chụp cắt lớp vi tính liều thấp lồng ngực 6 tháng

1-2%

5%

Phần nốt bán đặc

≥ 6mm tổng đường kính với thành phần đặc < 6mm hoặc

Nốt mới < 6mm tổng đường kính

Không có nốt ≥ 20 mm trên hình ảnh cắt lớp vi tính lồng ngực hoặc nốt mới

Nghi ngờ ác tính

Những dấu hiệu cho thấy bổ sung thăm dò chẩn đoán và/hoặc lấy mẫu mô

4A

Các nốt đặc:

Từ 8mm đến ≤ 15mm hoặc

đang tiến triển < 8mm hoặc

Nốt mới từ 6mm đến < 8mm

Sàng lọc với chụp cắt lớp vi tính liều thấp lồng ngực 3 tháng; có thể sử dụng PET/CT nếu có nốt đặc ≥ 8mm

5-15%

2%

Nốt bán đặc:

≥ 6mm với thành phần đặc ≥ 6mm đến < 8mm hoặc

Thành phần đặc đang tiến triển hoặc nốt mới < 4mm

 

Nốt ở nhánh phế quản sau

4B

Các nốt đặc:

≥ 15 mm hoặc

nốt mới hoặc đang phát triển ≥ 8mm

Chụp cắt lớp vi tính ngực có hoặc không có thuốc cản quang, PET/CT hoặc lấy mô u làm xét nghiệm phụ thuộc vào khả năng ác tính và các bệnh đồng mắc; có thể sử dụng PET/CT nếu có thành phần đặc ≥   8mm

>15%

2%

Nốt bán đặc:

Thành phần rắn ≥ 8mm hoặc

Nốt mới hoặc đang lớn ≥ 4mm

4X

Độ 3 hoặc 4 khi có nốt cùng với hình ảnh nghi ngờ ác tính

Khác

Những dấu hiệu có ý nghĩa lâm sàng hoặc khả năng có ý nghĩa lâm sàng (không phải ung thư phổi)

S

Điều chỉnh – có thể phân độ 0-4

Cần làm thêm các xét nghiệm khác

Không rõ

10%

U phổi từ trước

Điều chỉnh cho người bệnh mà đã có chẩn đoán u phổi từ trước quay lại sàng lọc

C

Điều chỉnh – có thể phân độ 0-4

-

-

-

 

Kết luận:

                Có nhiều hướng dẫn để tầm soát và phát hiện sớm ung thư phổi, tuy nhiên với hướng dẫn của Hiệp hội điện quang Hoa Kỳ (American College of Radiology) sử dụng Lung - RADS từ 2014 có nhiều ưu điểm đã giúp các bác sĩ lâm sàng và chẩn đoán hình ảnh thuận lợi và đơn giản hóa trong quản lý và theo dõi những tổn thương trên hình ảnh chụp cắt lớp vi tính ngực.

Tài Liệu Tham Khảo

1. D. Sharma, T. G. Newman và W. S. Aronow (2015). Lung cancer screening: history, current perspectives, and future directions. Archives of medical science: AMS, 11 (5), 1033.

2. R. Wender, E. T. Fontham, E. Barrera và cộng sự (2013). American Cancer Society lung cancer screening guidelines. CA: a cancer journal for clinicians, 63 (2), 106-117.

3. U. Pastorino, M. Bellomi, C. Landoni và cộng sự (2003). Early lung-cancer detection with spiral CT and positron emission tomography in heavy smokers: 2-year results. The Lancet, 362 (9384), 593-597.

4. G. Bastarrika, M. J. García-Velloso, M. D. Lozano và cộng sự (2005). Early lung cancer detection using spiral computed tomography and positron emission tomography. American journal of respiratory and critical care medicine, 171 (12), 1378-1383.

5. https://www.acr.org/Clinical-Resources/Reporting-and-Data-Systems/Lung-Rads

 Nguồn: ungthubachmai.com.vn

Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Tem dan Don vi Gen tri lieu 1

logo vinmec

Tiêu điểm

Hỗ trợ  

Joomla Templates and Joomla Extensions by ZooTemplate.Com
Hotline: 1900575758 phím 2

Clip

Đối tác chiến lược

chung cư imperia garden

Quảng cáo

Banner

Hình ảnh tiêu biểu

Đối tác chiến lược

chung cư imperia garden

Thống kê

Members : 5218
Content : 1268
Web Links : 3
Content View Hits : 358350