Wednesday, 06 July 2011 08:42

Phối hợp kỹ thuật X quang can thiệp và y học hạt nhân trong điều trị ung thư gan nguyên phát (HCC)

Read 3372 times

Một trong những biện pháp điều trị ung thư gan nguyên phát khi không có chỉ định mổ vẫn hay được áp dụng ở Việt Nam lâu nay là gây tắc động mạch gan bằng cách đặt ống thông rồi bơm chất gây tắc mạch nuôi dưỡng tổ chức ung thư để tiêu diệt tế bào gan, có thể kết hợp với các hoá chất chống ung thư vào đó (TOCE và TACE). Như vậy đã xuất hiện và tồn tại một kỹ thuật dùng Lipiodol để gây tắc mạch gan và đưa những hóa chất có tác dụng chống ung thư vào trong tế bào ung thư gan.

Summary: The technique of combining an interventional radiology with nuclear medicine for treatment of hepatic cell carcinoma was introduced. The author analized the outcomes from using several radiopharmaceuticals in this method and introduced the advences of using Tungsten-188/Rhenium-188 Generator for labelling Lipiodol. The therapeutic procedure using this technique was presented and the primary implemented results in Cho Ray Hospital was also given.

Mục đích của việc điều trị bệnh bằng bức xạ là kìm hãm hoạt động hoặc tiêu diệt tế bào bệnh. Một trong những biện pháp điều trị ung thư gan nguyên phát khi không có chỉ định mổ vẫn hay được áp dụng ở Việt Nam lâu nay là gây tắc động mạch gan bằng cách đặt ống thông rồi bơm chất gây tắc mạch nuôi dưỡng tổ chức ung thư để tiêu diệt tế bào gan, có thể kết hợp với các hoá chất chống ung thư vào đó (TOCE và TACE). Như vậy đã xuất hiện và tồn tại một kỹ thuật dùng Lipiodol để gây tắc mạch gan và đưa những hóa chất có tác dụng chống ung thư vào trong tế bào ung thư gan (1,2). Nhưng hoá chất cũng gây ra những tác dụng phụ như buồn nôn, vàng da và đặc biệt là gây đau đớn (có thể kéo dài tới 10 ngày sau khi điều trị). Từ đó xuất hiện kỹ thuật điều trị bằng các dược chất phóng xạ (DCPX). Nó cũng theo nguyên lý, cơ chế và kỹ thuật như trong TOCE và TACE nhưng trong y học hạt nhân (YHHN) thay vì tiêm các chất gây tắc mạch hoặc hoá chất tại chỗ, người ta tiêm DCPX qua các ống thông vào động mạch gan đến khối u. Các dược chất phóng xạ này có cấu trúc phân tử lớn đến tổ chức ung thư, lưu lại đó nhiều mà thoát ra rất ít. Tia bêta từ các hạt nhân phóng xạ sẽ tiêu diệt các tế bào bệnh. Đồng thời ở thời điểm đó, liều phóng xạ tối đa đối với tổ chức gan lành, phổi, tuỷ xương là cho phép và chấp nhận được. Chúng ta biết cho đến nay, chưa có một phương pháp điều trị nào có ưu điểm nổi bật cho ung thư gan. Theo Poon RT (9) trong TACE có thể gặp biến chứng đến 20% trường hợp, tỷ lệ có đáp ứng điều trị cũng chỉ khoảng 35%. Kỹ thuật YHHN là một phương tiện đóng góp để người thầy thuốc thêm lựa chọn trước những bệnh nhân cụ thể. Nó chưa cho kết quả triệt để nhưng kéo dài được tuổi thọ của bệnh nhân. Nó cũng có những hạn chế trong chỉ định như trước đó phải xác định xem có biến chứng viêm tắc tĩnh mạch cửa, có shunt thông giữa động tĩnh mạch không, khối u còn khu trú không v.v...(5,6,7). Sau đây là một số dược chất phóng xạ trong điều trị ung thư gan nguyên phát:

1. Các dược chất phóng xạ thường dùng:                                                                         

1.1. Lipiodol đánh dấu 131I:

Kỹ thuật dùng Lipiodol đánh dấu 131I được áp dụng từ năm 1980 mà tiên phong là một trung tâm tại Rennes, Pháp, sau đó được áp dụng ở những bệnh viện lớn. Việc này đòi hỏi phải có sự phối hợp với một bác sỹ X quang có kinh nghiệm về thông động mạch gan. Người ta thường dùng 1 ống thông có chiều rộng khoảng 5 French. Loại ống thông này được nối với một bơm tiêm (séringue) chứa thuốc. Một người nữa trong nhóm điều trị là bác sỹ YHHN đã được đào tạo về kỹ thuật này. Một thành viên khác là cử nhân vật lý để đảm bảo an toàn bức xạ và theo dõi bệnh nhân, xác định liều lượng và một người chuẩn bị DCPX để tiêm vào. Công việc thường được tiến hành tại phòng chụp mạch X quang (tốt nhất có máy chụp mạch số). Sau khi điều trị, bệnh nhân cần phải được cách ly từ 3 ¸ 6 ngày trong phòng riêng và có theo dõi về an toàn bức xạ vì thời gian bán rã của 131I khá dài. Kết quả, nếu đem việc điều trị bằng Lipiodol đánh dấu 131I (liều 1,8 GBq) so sánh với Lipiodol gắn Cisplatin liều 70 mg tiêm vào tĩnh mạch cửa 4 ¸ 5 tháng/ lần thì thấy tỉ lệ sống thêm của bệnh nhân 2 nhóm là giống nhau. Một nghiên cứu khác ở Pháp dùng 0,9 GBq Lipiodol đánh dấu 131I để so sánh với một nhóm dùng hóa chất Epirubicin và Lipiodol cũng có thời gian sống thêm của bệnh nhân độ 1 Okuda giống nhau. Người ta cũng có thể dùng Lipiodol phóng xạ điều trị 6 tuần sau khi phẫu thuật cắt bỏ để tiêu diệt nốt những tổ chức ung thư còn sót lại. Kinh nghiệm qua 450 lần điều trị cho 200 bệnh nhân nhưng kéo dài được đời sống chỉ cho 25 người. Như vậy, đây vẫn là một bệnh có tỉ lệ tử vong cao và rất khó xử lý.

DCPX thường được tiêm trực tiếp vào từng nhánh của động mạch gan sau khi đã luồn ống thông vào đúng chỗ. Đôi khi phẫu thuật viên kết hợp kĩ thuật điều trị YHHN này ngay khi mổ, sau khi nhận thấy không cắt bỏ được hết tổ chức ung thư. Nhiều tác giả (1,2,3) cho biết khi nghiên cứu so sánh YHHN với Lipiodol-131I và TACE (Epirubicin - Lipiodol) ở những bệnh nhân ở độ Okuda 2 cho kết quả như nhau nhưng phản ứng phụ gặp chỉ 15% trường hợp với YHHN so với 70% với hoá chất trị liệu. Thời gian nằm viện của bệnh nhân điều trị YHHN cũng ngắn hơn (3 so với 7 ngày). Nhiều công trình cho thấy với DCPX này có thể đáp ứng điều trị đến gần 60% trường hợp, thậm chí có đến gần 40% có biến chuyển tốt về tế bào bệnh học. Một công trình cho thấy kết quả: sau 3 tháng, tỉ lệ sống sót của nhóm chứng không điều trị là 10%, của nhóm Lipiocis là 71%. Sau sáu tháng nhóm chứng không còn ai, nhóm Lipiocis còn 48%. Sau một năm, nhóm Lipiocis còn 7% (10). Ngày nay, thương phẩm thường được gọi là Lipiocis-131I do hãng Cis- biointernational, Pháp sản xuất. Chất dầu Lipiodol khu trú hạn chế trong mô gan và mạch máu dẫn đến u mà không khuyếch tán ra xa, sang tổ chức lành được. ĐVPX 131I có thời gian bán rã 8 ngày, phát cả tia gamma và bêta. Bức xạ bêta phát ra từ 131I  có năng lượng trung bình khoảng 600 KeV sẽ diệt tế bào ung thư, dược phẩm thường được sản xuất với liều lượng 60 mCi (2220 MBq)/lọ).

1.2. 90Y microsphere:

Ytrium - 90 là ĐVPX chỉ phát ra tia bêta với năng lượng cực đại rất lớn là 2,25 MeV. Thời gian bán rã là 64 giờ. Từ 1985, nó được sản xuất dưới dạng microsphere để bơm vào động mạch gan điều trị ung thư gan tiên phát. Nghiên cứu thực nghiệm cho thấy với kĩ thuật này có thể đạt được khoảng 4x104 microsphere trong 1 cm3 nhu mô gan. Liều dùng cho 1 lần điều trị phải đạt   60 Gy tại chỗ. Nhiều công trình đã cho thấy độ an toàn cao và tỷ lệ đáp ứng điều trị khoảng 38% khi dùng DCPX này (4). Có thể phối hợp cả 90Y microsphere và Macroagreat albumin (MAA) đánh dấu 99mTc, hoặc với các hoá chất như 5- Fluorouracil để điều trị.Đó là 2 ĐVPX được áp dụng nhiều từ trước đến nay và đã mang lại nhiều kết quả khả quan. Tuy nhiên các ĐVPX đó vẫn chưa cho được kết quả như mong muốn. Vì vậy một số ĐVPX mới được phát hiện để gắn với các dược chất thích hợp dùng cho điều trị ung thư gan. Gần đây người ta đang nghiên cứu dùng chất Silicon đánh dấu 32P, có thể tiêm thẳng vào khối u gan dưới sự hướng dẫn của siêu âm đang mang lại nhiều hứa hẹn vì kỹ thuật đơn giản và hiệu quả.Tuy nhiên DCPX này còn đắt nên ở các nước như chúng ta còn bị hạn chế sử dụng.

2- Một số đồng vị phóng xạ (ĐVPX) mới:

2.1. 166Ho microsphere:

Holmium - 166 là ĐVPX phát ra tia bêta có năng lượng yếu hơn của 90Y (năng lượng tối đa là 1,84 MeV). Tuy vậy, nó có thời gian bán rã ngắn hơn (26,8 giờ) nên có thể tiêm cho bệnh nhân liều lớn hơn 90Y.

166Ho microsphere tập trung nhanh về mô gan ung thư. Sau 2 giờ đã đạt được tỉ lệ 6/1 giữa mô ung thư và mô lành của gan. Với liều dùng 5.800 MBq cho kết quả tốt (12). Người ta còn dùng hỗn hợp 166Ho Chitosan tiêm trực tiếp vào khối u ở gan hoặc kết hợp với tiêm Ethanol qua da (PEI). Tuy nhiên việc dùng ĐVPX này gặp khó khăn ở những nơi không sản xuất được 166Ho tại chỗ như nước ta hiện nay do nó có thời gian bán rã ngắn.

2.2. 188Re microsphere:

            Rhenium - 188 là một hạt nhân phóng xạ có thời gian bán rã vật lý    T1/2= 16,9 giờ. Nó phát ra tia b với năng lượng tối đa là 2,12 MeV và trung bình là 0,795 MeV, rất phù hợp cho điều trị bằng phương pháp chiếu trong,  tia g với năng lượng chủ yếu là 155 keV chiếm 15%. Do đó nó cũng tiện lợi cho việc đồng thời ghi hình gan bằng máy Gamma Camera giúp cho sự đánh giá mật độ phân bố của DCPX trong gan khi theo dõi điều trị. Lúc đầu chúng được sản xuất dưới dạng microsphere và tiêm vào ổ ung thư qua ống thông động mạch. Nhiều công trình của các tác giả nước ngoài trước đây cho thấy kết quả rất đáng khích lệ.           

            2.3. Điều trị ung thư gan nguyên phát  188Regắn vào Lipiodol:

            188Re- HDD- Lipiodol (188Re - Lipiodol) là một DCPX mới hiện nay đang được triển khai mạnh trong lĩnh vực này. Trong dược chất phóng xạ này ta có ĐVPX 188Re được gắn với Lipiodol. Ưu điểm nổi bật của DCPX này là có hệ số an toàn cao khi tiêm 188Re-Lipiodol vào động mạch gan ở những bệnh nhân ung thư gan tiên phát không còn khả năng phẫu thuật. Ngoài ra liều chiếu tối đa đối với gan, phổi và tuỷ xương không lớn, các tác dụng có hại đối với cơ thể thấp và tỷ lệ đáp ứng đối với điều trị bằng phương pháp này khá cao. Các thầy thuốc trong nhiều chuyên khoa khác nhau đều nhất trí sử dụng phương pháp dùng 188Re-Lipiodol để điều trị các bệnh nhân bị ung thư gan nguyên phát không có khả năng phẫu thuật (8). Kỹ thuật này cũng đã được áp dụng thí điểm tại BV Chợ Rẫy, TP Hồ Chí Minh nhờ sự giúp đỡ của cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA). Các đồng nghịêp ở đây (11) tiến hành 84 lần điều trị cho 51 bệnh nhân với liều trung bình khoảng 139 mCi, liều tối đa lên đến 678 mCi (4 lần tiêm) đã thu được kết quả khả quan và rút ra nhận xét là "điều trị bằng 188Re-HDD-Lipiodol là phương pháp an toàn và tiết kiệm trong điều trị ung thư gan tiên phát quá khả năng phẫu thuật".

          Điều quan trong là trong kỹ thuật này người ta thường dùng nguồn sinh phóng xạ (Generator) Tungsten-188/Rhenium-188. ĐVPX Tungsten-188 khi phân rã sản sinh ra 188Re. Thời gian phân rã của Tungsten khá dài còn thời gian bán rã của 188Re lại rất ngắn. Do T1/2 của W-188 dài nên có thể sử dụng bình chiết đó trên 6 tháng, tiết kiệm được chi phí .188Re được chiết ra từ  nguồn sinh phóng xạ  đó. Vì vậy mỗi binh sinh như vậy có thể cung cấp một khối lượng 188Re không có chất mang vừa đủ cho công tác chẩn đoán và điều trị thường quy khá lâu. Chính vì vậy IAEA rất khuyến khích sử dụng kỹ thuật này vì lợi ích kinh tế và hiệu quả. 3 - Kỹ thuật tiến hành điều trị ung thư gan nguyên phát bằng 188Re - Lipiodol:

3.1. Đánh dấu Lipiodol:

            Các kit đông khô 4 - hexadecyl 1 - 2, 9, 9 - tetramethyl - 4, 4 - diaza - 1, 10 - decanethiol (gọi tắt là HDD) cần được nhập ngoại (Hàn Quốc). Lấy dịch chiết 188Re đậm đặc không có chất mang từ nguồn sinh (Generator) Tungsten/Renium của Hoa Kỳ sản xuất, lắc đều rồi ly tâm để loại 188Re - HDD và Lipiodol tự do ra. Phức hợp liên kết phóng xạ 188Re-HDD - Lipiodol (còn gọi là 188Re-Lipiodol) còn lại sẽ ở trạng thái bền vững ít nhất trong 4 giờ. Bước tiếp theo là kiểm tra chất lượng độ tinh khiết hoá phóng xạ trong tất cả các trường hợp trước khi tiêm 188Re - Lipiodol cho bệnh nhân.

3.2. Chỉ định bệnh nhân:

- Bệnh nhân phải từ 18 tuổi trở lên được xác định chẩn đoán trên lâm sàng là ung thư gan tiên phát, có nồng độ AFP huyết thanh cao trên 500 ng/ml và có tổn thương choán chỗ trên ghi hình gan bằng máy Gamma Camera, SPECT hoặc PET. Bệnh nhân được chỉ định chụp CT gan nhằm đánh giá kích thước khối u trước điều trị. Trên hình ảnh các loại của gan hoặc trên film CT, khối u gan phải đo được 2 chiều. Nếu chỉ là một khối thì đường kính lớn nhất cho phép là 5 cm. Từ 2¸3 khối thì đường kính lớn nhất cho một khối là dưới 3 cm.

- Điểm quan trọng là bệnh nhân đều phải có chẩn đoán mô bệnh học chứng tỏ bị ung thư gan tiên phát (HCC) và không còn khả năng điều trị bằng phẫu thuật cắt bỏ (resection).Bệnh nhân phải đi lại được, chỉ số Karnofsky về chất lượng cuộc sống bệnh nhân phải đạt trên 70 điểm (70%), không có suy thận. Nồng độ Creatinine huyết thanh phải  £ 2 mg/ dl. Số lượng tiểu cầu ³ 100.000 / ml.

3.3. Chống chỉ định:

- Bệnh nhân ở giai đoạn C theo phân loại tình trạng bệnh của Child, suy tim nặng ở giai đoạn III, IV (theo tiêu chuẩn của Hội tim mạch New York - Mỹ). Bệnh nhân có bệnh về phổi. Ví dụ: hen ... đòi hỏi phải điều trị bằng thuốc giãn phế quản, nhiễm trùng nặng đang được điều trị bằng thuốc kháng sinh hoặc bệnh nhân đang bị các bệnh nặng khác.

- Tiên lượng thời gian sống của bệnh nhân ít hơn 1 tháng. Bệnh nhân có di căn ngoài gan, dị ứng đối với các loại thuốc cản quang tĩnh mạch, có dấu hiệu doạ vỡ khối u gan nguyên phát.

- Phụ nữ có thai hoặc đang cho con bú.

3.4. Chuẩn bị bệnh nhân:

- Các thầy thuốc giải thích những lợi ích có thể mang lại do được điều trị bằng phương pháp này, thông báo các tai biến và tác dụng phụ có thể có của việc bơm thuốc vào động mạch gan. Bệnh nhân cần phải đồng ý và ký cam kết xin được điều trị bằng phương pháp này (như trước phẫu thuật).

- Bệnh nhân phải được ngừng điều trị bằng hoá chất hoặc thuốc miễn dịch ít nhất 4 tuần và các thuốc dãn phế quản hoặc steroid ít nhất 8 tuần trước khi nhận liều điều trị.

- Bệnh nhân được nhập viện để chụp động mạch gan sau khi khám toàn diện.

3.5. Quy trình điều trị:

- Trước khi điều trị một ngày, bệnh nhân được chuyển tới khoa YHHN để ghi hình gan giúp đánh giá hình thể, chức năng gan và thể tích khối u trên máy Gamma Camera. Việc ghi đo phóng xạ còn thực hiện ở các ngày tiếp theo sau khi nhận liều để theo dõi sự di chuyển của nguồn phóng xạ nhằm xác định hệ số giảm liều đối với gan và phổi.

- Thầy thuốc điện quang can thiệp thực hiện chụp động mạch gan. Thầy thuốc YHHN trực tiếp bơm DCPX vào động mạch càng chính xác càng tốt. Lượng DCPX truyền ban đầu mới là liều thăm dò, khoảng 200 MBq, được bơm chậm trong 5 phút một cách cẩn thận để không làm trào ngược DCPX vào trong động mạch dạ dày tá tràng nhằm tránh nguy cơ gây viêm dạ dày cấp do phóng xạ. Nếu có nhiều khối u, liều thăm dò này được chỉ định đưa vào động mạch nuôi 2 khối u lớn nhất.

- Với một ống thông đặt ở chỗ động mạch nuôi, bệnh nhân được chuyển tới khoa YHHN (thường ở gần khoa Điện quang). Để duy trì vô khuẩn, cần phải sử dụng một tấm nilon vô trùng buộc cố định chỗ chọc vào động mạch đùi. Ghi hình liều thăm dò được thực hiện theo phương pháp tĩnh trên gan và phổi. Trong trường hợp cần thiết có thể ghi hình toàn thân. Cả 2 hình ghi mặt trước và mặt sau được thu nhận để tính số xung trung bình. Các vùng quan tâm (ROI) là các vùng tương ứng của phổi, gan và khối u. Sử dụng chương trình phần mềm Excel spread sheet (Pzanzonico, New York) để tính liều dung nạp tối đa (MTD) đối với gan và phổi dựa vào số xung trung bình trên mỗi hình thu được. Có thể lấy mẫu máu đo hoạt độ phóng xạ trong huyết tương và tính liều chiếu cho tuỷ xương. Thực tế cho thấy liều chiếu này không đáng kể cho nên về sau việc đo mẫu máu đã bị huỷ bỏ. Tương tự, các hình ghi toàn thân cũng bị loại bỏ mà người ta chỉ lưu tâm tới hình ghi tĩnh các cơ quan liên quan vì từ đó kết quả tính liều là đủ tin cậy.

            - Sau khi ghi hình liều thăm dò và tiến hành các kỹ thuật đo liều kể trên, bệnh nhân được gửi trở lại khoa Điện quang (nơi chụp mạch) để xác định lại chắc chắn không có xê dịch vị trí ống thông và tiêm tiếp liều điều trị. Liều điều trị thường bằng liều dung nạp tối đa được các thầy thuốc YHHN tính toán trước, thông thường trong vòng 1 giờ kể từ lúc tiêm liều thăm dò. Về sau việc tính liều điều trị cho từng bệnh nhân dần dần cũng bị loại bỏ. Người ta thấy việc tính liều điều trị căn cứ vào đo đạc từ liều thăm dò bằng máy Gamma Camera là không đáng tin cậy. Do đó, dựa vào kinh nghiệm, thường chỉ định liều đưa vào trung bình là 4 đến 4,5 GBq (27 x 4 = 108 mCi) của 188Re - Lipiodol. Sau khi nhận liều điều trị, bệnh nhân được chuyển về các phòng bệnh cách ly để theo dõi các triệu chứng, các tác dụng phụ và các bất thường bằng các xét nghiệm về sinh hoá, huyết học... Sau 3, 4 ngày nếu bệnh cảnh ổn định, bệnh nhân có thể xuất viện (ngắn hơn so với Lipiodol - 131I).

3.6. Đánh giá sau điều trị:

Sau khi nhận liều điều trị, bệnh nhân được khám lại với chu kỳ 3 tháng một lần cho đến khi kết thúc đợt điều trị. Bệnh nhân được thăm khám lâm sàng và các xét nghiệm cận lâm sàng cần thiết. Mức độ tổn thương thường được đánh giá bằng cách so sánh hình ảnh CT trước 2 tuần và sau 6 ¸ 8 tuần sau khi nhận liều điều trị. Sự đáp ứng cũng được đánh giá bằng sử dụng cùng một phương pháp ghi hình trước và sau để ước tính mức độ của bệnh trong quá trình điều trị. Một đợt điều trị thành công được xem như là kết thúc sau 12 tuần nhận liều 188Re - lipiodol mà bệnh nhân không có biến chuyển xấu hơn.    

hinh_anh

capture1

3.7. Kết quả điều trị:

            Hầu hết các bệnh nhân bị u gan tiên phát không có khả năng phẫu thuật được điều trị bằng 188Re - Lipiodol đều giảm kích thước khối u, có thời gian sống thêm kéo dài hơn các bệnh nhân khác. Các tác dụng phụ toàn thân cũng như tại chỗ xảy ra trong quá trình điều trị là không đáng kể. Bệnh nhân được cải thiện về chất lượng cuộc sống rõ rệt. Cụ thể là không có  biến đổi đáng kể trong các thành phần hữu hình của máu, men gan sau 24 giờ, 1 tuần, 1 tháng hoặc 3 tháng trên tất cả các bệnh nhân. Nồng độ AFP nói chung đều giảm sau điều trị. Một số ít bệnh nhân nếu có tăng AFP trở lại cần được nhận liều bổ sung. Hình ảnh khối u trên film CT hầu hết là giảm kích thước, số ít thì giữ nguyên. Điều quan trọng phải nhắc tới ở đây là hầu hết bệnh nhân được điều trị đều ở giai đoạn bệnh đang tiến triển với các khối u lớn mà không có khả năng phẫu thuật. Nét cơ bản của phương pháp điều trị mới này là bệnh nhân chỉ nằm viện trong một thời gian ngắn do thời gian bán rã của ĐVPX ngắn, có trạng thái hoạt động tốt và có khả năng tiếp tục công việc của họ sau 1 tuần điều trị.  

          Về mặt an toàn phóng xạ đối với bệnh nhân, dược chất phóng xạ 188Re - Lipiodol ở trạng thái in vivo ổn định tốt vì không thấy lên hình tuyến giáp hoặc dạ dày sau khi tiêm liều điều trị. Hai thận lên hình yếu ớt sau 24, 48 hoặc 72 giờ chứng tỏ có sự thanh lọc tối thiểu qua thận. Liều chiếu vào tuỷ xương chấp nhận được, liều chiếu ở phổi cũng nhỏ, đều dưới liều dung nạp tối đa (MTD).Nếu so sánh với các loại dược chất phóng xạ đã dùng trước đây thì 188Re - Lipiodol là loại dược chất phóng xạ mới thay thế tiện lợi đối với các nước đang phát triển. Nguồn sinh (Generrator) 188W / 188Re có thể được chế tạo sẵn dựa vào đặc tính có thời gian sử dụng dài từ 4 ¸ 6 tháng và giá cả lại phù hợp với điều kiện kinh tế ở các nước đang phát triển. Năng lượng trung bình của tia b 188Re cũng tương tự 90Y và đủ cao đối với hiệu lực huỷ diệt tế bào ung thư. Đây là kỹ thuật tốt nhất hiện nay đối với việc điều trị ung thư gan tiên phát phát hiện chậm đáng được lựa chọn. Hy vọng rầng trong thời gian tới chuyên ngành điện quang can thiệp và YHHN ở các cơ sở có thể xúc tiến áp dụng kỹ thuật này và nhiều cơ sở YHHN gần nhau có thể mua chung nguồ sinh phóng xạ 188W / 188Re để giảm giá thành trong điều trị cho bệnh nhân so với việc nhập trực tiếp các liều Lipiodol đánh dấu I-131 trước đây, trong khi việc áp dụng kỹ thuật miễn dịch phóng xạ liệu pháp (Radioimmunotherapy) còn gặp nhiều khó khăn.

GS.TSKH. Phan Sỹ An, Chủ tịch Hội Vật lý y học VN (VAMP)

Phó Chủ Tịch hội Điện quang& Y học hạt nhân VN (VSRNM)

Tài liệu tham khảo

1.    Bhattacharya S, Novell JR, Dusheiko GM, Hilson AJW, Dick R. Hobbs KE: Epirubicin-lipiodol chemotherapys vs I-131 iodine lipiodol radiotherapy in the treatment of unresectable hepatocellular carcinoma, Cancer, 1995, 76, 2202-2210.

2. Bourguet p, Roual JL, Gudayer D et al. Randomised controled trial for hepatocellular carcinoma with portal vein thrombosis; intra-arterial injection of I-131 labeled iodized oil versus medical support, Eur J Nucl med 1992,19,608.

3.    Friedman A. M. : Radionuclides  in therapy. Boca Raton, Florida, America, 1987.

4. Geschwind JF, Salem R, Carr BI et al. Ytrium-90 microspheres for the treatment of hepatocellular carcinoma . Gastroenterology.2004,127 (5 Suppl.), 194-205

5. Lau WY, Leung TWT, Ho S et al: Adjuvant intra-arterial iodine-131 labelled lipiodol for resectable hepatocellular carcinoma,Lancet 1999,353,797-801.

6. Leung WT, Lau WY, Ho M et al.: Selective internal radiation therapy with intra-arterial I-131 lipiodol in inoperable hepatocellular carcinoma. J.Nucl.Med. 1994, 35,1313-1318.

7. Novell JR, Hilson AJW: Iodine-131-Lipiodol for hepatocellular carcinoma: The benefits of targeting J.Nucl.Med., 1994, 35,1318-1320.

8. Phan Sỹ An. Những kỹ thuật Y học hạt nhân phổ biến hiện nay trên thế giới và kết quả ứng dụng ở Việt nam. Thông tin Y học lâm sàng Bệnh viện Bạch mai, số 10 năm 2003.

9. Poon RT, Ngan H, Lo CM, et al.Transarterial chemoembolization for inoperable hepatocellular carcinoma and postresection intrahepatic recurrence. J Surg Oncol 2000, 73, 109-114.

10. Raoul JL, Messner M, Boucher E, et al. Preoperative treatment of hepatocellular carcinoma with intra-arterial injection of I-131 labelled lipiodol . Br J Surg 2003, 90 ,1379- 1383.

11. Trịnh Thị Minh Châu, Huỳnh Đức Long, Lê Trọng Chiến, Nguyễn Văn Hoà,Lê Hữu Tâm, Trương Quang Xuân, Nguyễn Xuân Cảnh: Điều trị ung thư gan nguyên phát quá khả năng phẫu thuật bằng dược chất phóng xạ 188Re- HDD - Lipiodol. Báo cáo tại Hội nghị khoa học và công nghệ hạt nhân toàn quốc lần thứ 6 tổ chức tại Đà lạt , tháng 10 năm 2005.

12. Tuner JH, Claringbold PG, Klemp PFP et al. Ho-166 macrosphere liver therapy: a preclinical SPECT dosimetry study in the pit. Nucl  Med  Commun 1994, 15, 545-553.

Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Tem dan Don vi Gen tri lieu 1

logo vinmec

Hỗ trợ  

Joomla Templates and Joomla Extensions by ZooTemplate.Com
Hotline: 1900575758 phím 2

Clip

Đối tác chiến lược

chung cư imperia garden

Quảng cáo

Banner

Hình ảnh tiêu biểu

Đối tác chiến lược

chung cư imperia garden

Thống kê

Members : 5632
Content : 1268
Web Links : 3
Content View Hits : 358371